- 1. Cơ sở pháp lý:
- 2. Vì sao cần phân biệt tội danh "cướp" và "cướp giật" tài sản?
- 3. Căn cứ pháp lý
- 4. So sánh tội "cướp" và "cướp giật" tài sản
- 4.1. Điểm giống nhau
- 4.2. Điểm khác nhau
- Về dấu hiệu khách quan của yếu tố chiếm đoạt
- Về phương thức thực hiện Tội phạm
- 5. Sự chuyển hóa từ tội cướp giật sang tội cướp tài sản
Thưa luật sư, tôi có đọc được trên các trang báo hoặc trên facebook nhiều vụ việc về cướp, hay cướp giật tài sản. Nhưng nhiều khi cùng sự việc như nhau có báo dùng là “cướp” có báo ại dùng từ “cướp giật”, vậy xin luật sư hãy giúp tôi phân biệt cụ sự khác nhau giữa “cướp” và “cướp giật” để tôi được thông tỏ hơn. Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Đặng Huân – Phú Thọ
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162
Trả lời:
Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
1. Cơ sở pháp lý:
- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
2. Vì sao cần phân biệt tội danh "cướp" và "cướp giật" tài sản?
Trong Đạo luật Hình sự cũng như trong Khoa học pháp lý hình sự: Có 02 Tội danh (Tội phạm) khác nhau, nhưng lại thường bị đồng nhất với nhau là một - Đó là Tội "Cướp tài sản" và Tội "Cướp giật tài sản".
Và để bạn đọc có thể hiểu thêm vấn đề cũng như nội hàm của Tội danh "Cướp tài sản" và "Cướp giật tài sản". Trong phạm vi bài viết này, Luật Minh Khuê sẽ phân tích một số khía cạnh pháp lý có liên quan để làm rõ sự khác nhau giữa hai tội danh. Việc phân biệt 02 Tội danh này có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt, bởi lẽ hình phạt đối với Tội cướp tài sản luôn nặng hơn rất nhiều so với Tội cướp giật tài sản.
3. Căn cứ pháp lý
Tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản được ghi nhận tại 2 điều luật riêng biệt trong Bộ luật hình sự hiện hành. Cụ thể:
Tội cướp tài sản: (Điều 168) quy định: "1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm."
Tội cướp giật tài sản: (Điều 171) quy định: "Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm."
4. So sánh tội "cướp" và "cướp giật" tài sản
4.1. Điểm giống nhau
Tội cướp và Tội cướp giật, sở dĩ bị nhầm lẫn với nhau, vì hai Tội danh này có một số đặc điểm giống nhau nhất định:
Thứ nhất, cả hai tội danh, người thực hiện hành vi Tội phạm (Hung thủ) đều có động cơ giống nhau là chiếm đoạt tài sản của người khác. Cướp cũng vì lấy tài sản, cướp giật cũng vì lấy tài sản.
Thứ hai, cả hai tội danh, người thực hiện hành vi Tội phạm đều công khai. Lưu ý là công khai về hành vi. Còn khi cướp hay cướp giật, hung thủ có thể bịt mặt, đeo khẩu trang ..... Trái ngược với hành vi công khai của hai tội danh này, là hành vi lén lút, rình mò, chui lủi của Tội "Trộm cắp tài sản".
Như vậy, do có một vài đặc điểm giống nhau như trên, mà thực tế có nhiều người nhầm tưởng hai Tội danh này là một: Nên thích thì gọi cướp hay cướp giật. Tuy nhiên về mặt pháp lý và thực tế chúng hoàn toàn khác nhau.
4.2. Điểm khác nhau
Về dấu hiệu khách quan của yếu tố chiếm đoạt
Cả hai tội danh, hung thủ đều xuất phát từ động cơ chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, dấu hiệu khách quan của yếu tố chiếm đoạt trong hai Tội danh là khác nhau:
Thứ nhất, đối với Tội cướp tài sản: Chỉ cần hung thủ có mục đích chiếm đoạt là thỏa mãn yếu tố bắt buộc về sự chiếm đoạt.
Ví dụ 1: A thấy B đang đi trên đường, A xông ra, rút súng và nói: Đưa tiền vàng đây, không bắn. Chỉ cần dừng lại ở đây, mục đích chiếm đoạt đã được xác định mà không cần A phải có hành vi như khám xét người B để lấy tiền.
Thứ hai, đối với Tội danh cướp giật tài sản lại khác, biểu hiện của sự chiếm đoạt phải được thể hiện bằng hành vi, mới thỏa mãn yếu tố bắt buộc về sự chiếm đoạt.
Ví dụ 2: C thấy D đang cầm điện thoại đi trên đường, C liền tìm cách tiếp cận và áp sát D, rồi giật lấy điện thoại, đây là hành vi chiếm đoạt, khác với hành vi của A ở trên. Trong trường hợp này, bắt buộc C đã phải có hành vi chiếm đoạt. Bất kể hành vi này có thành hay không, có thể giật nhưng không được, vì nạn nhân giữ chặt quá, nhưng hành vi chiếm đoạt của C đã thực hiện.
Về phương thức thực hiện Tội phạm
Đây là điểm đặc trưng cơ bản dẫn đến sự khác nhau nhất giữa hai Tội danh này:
Thứ nhất, đối với Tội cướp: Phương thức thực hiện tội phạm của Hung thủ, là dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc dùng thủ đoạn khác làm cho nạn nhân rơi vào trạng thái không chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Hiểu nôm na, Hung thủ đã có hành động nhằm làm cho nạn nhân bị tê liệt về ý chí phản kháng hoặc không thể phản kháng.
Ví dụ 3: H thấy N đang chạy xe trên đường, liền xông ra, rút mã tấu chém đứt lìa cánh tay của N, sau đó cướp xe, bỏ chạy. Đây là hành vi cướp tài sản bằng vũ lực.
Ví dụ 4: T thấy P đang đi bộ trong công viên, liên tiếp cận, kề dao vào cổ P, và yêu cầu đưa tài sản, nếu không sẽ cắt cổ ngay. Đây là hành vi cướp tài sản bằng việc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc.
Ví dụ 5: S và X ngồi nhậu với nhau, do nảy sinh ý định cướp tài sản của X, nên S đã lén bỏ thuốc mê vào ly rượu của X. Sau khi X mê man, S liền lấy xe của X đi bán lấy tiền tiêu xài. Đây là hành vi cướp tài sản bằng việc chuốc thuốc mê khiến nạn nhân không thể chống cự được.
Thứ hai, đối với Tội cướp giật: Phương thức thực hiện tội phạm của Hung thủ, sẽ không phức tạp nhu trên mà đơn giản ở tổ hợp hành vi: Nhanh chóng tiếp cận và nhanh chóng chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát. Nghĩa rằng, sẽ không có thời gian để chuốc thuốc mê; Không có chuyện đe dọa là nếu không đưa tiền sẽ cắt cổ; càng không có chuyện chém trước rồi lấy tài sản sau như ở Tội cướp.
Ví dụ 6: E Thấy T đang chạy xe trên đường, có đeo một túi xách ngang vai. E liền tìm cách tiếp cận, áp sát xe của T, sau đó giật lấy túi xách rồi phóng ga bỏ chạy.
Tuy nhiên, việc nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm đoạt, nhanh chóng tẩu thoát, chỉ tính từ lúc Hung thủ tiếp cận tài sản và thực hiện hành vi chiếm đoạt. Nghĩa rằng, trước đó Hung thủ có thể la cà, tìm kiếm con mồi một khoảng thời gian nhất định. Nhưng ở đây, vẫn gọi là cướp giật tài sản.
Ví dụ 7: Y vào cửa hàng của Z giả vờ mua điện thoại, Y hỏi xem rất nhiều mặt hàng và chờ đợi thời cơ. Đúng lúc Z sơ hở bận nghe điện thoại, Y liên cầm lấy hai điện thoại chạy ra ngoài, lên xe vù đi. Đây vẫn là tội cướp giật tài sản.
Tóm lại, mặc dù Tội cướp và Tội cướp giật tài sản, đều xuất phát từ động cơ chiếm đoạt tài sản từ người khác của Hung thủ. Tuy nhiên hai Tội danh này có Cấu thành tội phạm khác xa nhau: Trong khi Tội cướp tài sản, Hung thủ luôn có thiên hướng làm tê liệt ý chí của nạn nhân hoặc triệt tiêu khả năng phản kháng của nạn nhân trước như đánh đập, đe dọa đánh đập ngay, rồi sau đó mới chiếm đoạt tài sản. Thì Tội cướp giật tài sản, Hung thủ nhắm trực tiếp ngay đến việc chiếm đoạt tài sản và tẩu thoát. Chính vì vậy, trong khoa học pháp lý hình sự, người ta xác định: Tội cướp tài sản trực tiếp tác động đến hai đối tượng là tính mạng, sức khỏe và tài sản của nạn nhân; Còn Tội cướp giật, chỉ trực tiếp tác động đến tài sản của nạn nhân. Cũng vì thế Tội cướp luôn bị xem là nguy hiểm hơn, do đó hình phạt cũng nặng hơn. Tất nhiên, cũng có trường hợp trong khi cướp giật, Hung thủ làm cho nạn nhân té ngã, bị thương, nhưng đó không phải là thiên hướng chính của tội phạm này.
5. Sự chuyển hóa từ tội cướp giật sang tội cướp tài sản
Có những trường hợp, ban đầu Hung thủ thực hiện hành vi cướp giật tài sản, nhưng quá trình thực hiện hành vi, Hung thủ lại thực hiện những hành vi khách quan của Tội cướp thì lúc này, Hung thủ sẽ bị xem là phạm Tội cướp tài sản.
Ví dụ 8: E Thấy T đang chạy xe trên đường, có đeo một túi xách ngang vai. E liên tìm cách tiếp cận, áp sát xe của T, sau đó giật lấy túi xách rồi phóng ga bỏ chạy. Cùng lúc đó A và B phát hiện sự việc và truy đuổi E, E liền rút súng ra bắn bị thương A, rồi vẫn giữ lấy túi xách và vù ga bỏ chạy. Lúc này E không phải phạm Tội cướp giật, mà đã chuyển hóa thành Tội cướp, vì đã có yếu tố dùng vũ lực. Ngoài ra, E còn bị xem xét Tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
Chỉ có sự chuyển hóa từ Tội cướp giật sang Tội cướp mà không có khả năng ngược lại. Tức chỉ có khả năng chuyển hóa từ một Tội nhẹ hơn thành Tội nặng hơn. Và cũng cần nhớ rằng, việc chuyển hóa này, xuất phát từ quá trình thực hiện tội phạm của Hung thủ, mà không phải do Cơ quan có thẩm quyền xác định sai, rồi xác định lại.
Trên các trang báo đưa tin thường không phải là người thực sự am hiểu pháp luật, chỉ đơn giản là mô tả lại sự việc hoặc là sự sao chép từ các nguồn khác tương tự. Do đó, viêc jchuwa nhận định đúng về tội danh là điều dễ hiểu. Là người đọc, chúng ta không nên nóng vội, hãy chờ kết luận từ cơ quan điều tra để có kết quả đáng tin cậy hơn.
Như trên đã phân tích, thực tế thường có sự chuyển hóa từ tội cướp giật sang tội danh cướp vì những yếu tố tác động (như nạn nhân quyết liệt giằng co khiến cho hung thủ phải sử dụng vũ lực tác động để thực hiện đến cùng hành vi chiếm đoạt tài sản).
Tóm lại, khi một hành vi phạm tội xảy ra, việc xác định là tội cướp hay cướp giật sẽ do cơ quan có thẩm quyền điều tra và kết luận. Chúng ta muốn tìm hiểu rõ sự việc chỉ nhằm mục đích thỏa mãn sự hiểu biết của bản thân và trong một số trường hợp biết đâu được rủi ro lại đến với chúng ta để biết mà bảo vệ quyền lợi của chính mình (trong trường hợp cơ quan điều tra kết luận chưa đúng), đấu tranh áp dụng đúng hình phạt tương xứng với tội phạm đã thực hiện. Bằng những luận giải trên đây, tôi hy vọng rằng bạn đọc đã có định hình rõ ràng về sự khác biệt giữa hai tội danh này.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê