1. Cơ chế quốc tế

Bộ máy các cơ quan và các quy tắc, thủ tục thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong hệ thống Liên Hợp quốc (LHQ) còn được gọi với tên là "cơ chế quốc tế" hoặc "cơ chế LHQ" bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Cơ chế quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người chính là bộ máy các cơ quan và các quy tắc, thủ tục về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong hệ thống Liên hợp quốc. Mặc dù có mục tiêu chung là để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người và chung một mái nhà là hệ thống Liên hợp quốc, tuy nhiên, dựa trên vị thế pháp lý và chức năng, nhiệm vụ của chúng, các cơ quan quyền con người Liên hợp quốc được chia thành hai dạng: các cơ quan được thành lập theo (hoặc dựa trên) Hiến chương (charter-based organ, hoặc charter bodies), và các cơ quan được thành lập theo (hoặc dựa trên) một số Công ước quan trọng về quyền con người (treaty bodies). Một số tài liệu gọi hệ thống các cơ quan và thủ tục này là cơ chế dựa trên Hiến chương (charter-based mechanism) và cơ chế dựa trên Công ước (treaty-based mechanism).

2. Cơ chế khu vực

Cơ chế khu vực điển hình là Cơ chế bảo đảm quyền con người châu Âu, Cơ chế bảo đảm quyền con người châu Mỹ, Cơ chế bảo đảm quyền con người châu Phi. Đây là những cơ chế khu vực được hình thành và phát triển dựa trên những văn kiện pháp lý quan trọng của khu vực là các Hiến chương và công ước. Chẳng hạn, Hiến chương Xã hội châu Âu (1961) và Công ước châu Âu về bảo vệ các quyền con người và tự do cơ bản (1950) (hay thường được gọi là Công ước châu Âu về quyền con người), Công ước châu Mỹ về quyển con người (1969), Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền của các dân tộc (1981),... Cho đến nay, châu Á chưa có một cơ chế bảo đảm quyền con người mang tính khu vực thống nhất (liên chính phủ) như các khu vực này (mặc dù có các cơ chế khu vực châu Á không chính thức). Tuy nhiên, ở khu vực Đông Nam Á (ASEAN), với việc thông qua Hiến chương ASEAN vào tháng 12 năm 2008, các quốc gia trong khu vực ASEAN đã và đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người.

Cơ chế khu vực chú ý đến tính đặc thù về điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị, v.v... của khu vực trong việc thúc đẩy và đảm bảo quyền con người. Cơ chế khu vực không tách biệt so với cơ chế quốc tế và cơ chế quốc gia.

3. Cơ chế quốc gia

Cơ chế quốc gia chính là cơ chế đảm bảo quyền con người của các quốc gia. Bên cạnh cơ chế quốc tế và khu vực, các quốc gia thường có cơ quan chuyên trách bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đây là cơ chế đảm bảo quyền con người ở mỗi quốc gia. Do có những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, vì vậy, bên cạnh những nguyên tắc cơ bản, mỗi nước lại có những cơ chế đặc thù của mình.

Cơ chế quốc gia về thúc đẩy và đảm bảo quyền con người xuất phát từ và nhằm thực hiện những nghĩa vụ của các nhà nước được nêu trong tất cả các văn kiện quốc tế về quyền con người. Các cơ chế quốc gia bảo đảm quyền con người, nếu xét theo nghĩa rộng, rất đa dạng, về lý thuyết, các cơ quan nhà nước có chức năng duy trì ổn định, trật tự xã hội và bảo đảm quyền của người dân. Các chính quyền dân chủ tồn tại để phục vụ nhân dân, do đó, các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có chức năng bảo vệ quyền con người. Tuy nhiên, chính các cơ quan và viên chức nhà nước cũng đồng thời là chủ thể chính vi phạm quyền con người, vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đã thiết lập các cơ quan độc lập hoặc bán độc lập với bộ máy nhà nước để tăng cường hiệu quả của việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người.

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đã hình thành được các mô hình có tính quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người như: ủy ban Quyền con người quốc gia (National Commissions of Human Rights) và Thanh tra Quốc hội (Ombudsman). Đây là hai mô hình khá phổ biến ở các nước châu Âu và hoạt động khá hiệu quả trong việc bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy quyền con người. Ngoài ra, một số quốc gia có quan chức chuyên trách về nhân quyền với tên gọi khác, chẳng hạn như Cao uỷ Nhân quyền của Nghị viện Ucraina (Ukrainian Parliament Commissioner for Human rights).

4. Cơ chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

Đối chiếu với các tiêu chuẩn quốc tế như phân tích ở trên, ở nước ta hiện nay chưa có một cơ quan chuyên trách bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người như mô hình của một số nước trên thế giới. Do vậy, nghiên cứu cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền con người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay chính là làm rõ và tăng cường hơn nữa hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước (cả cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp) tiến tới nghiên cứu thiết lập cơ quan quốc gia về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong tương lai có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn”.

So với các Hiến pháp trước đây, nhất là với Hiến pháp năm 1992, bản Hiến pháp năm 2013 cô đọng hơn, chỉ gồm 120 điều, 11 chương và Lời nói đầu. Mặc dù ngắn gọn như vậy, nhưng Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới căn bản, nhất là những quy định về quyền con người và quyền công dân.

Từ vị trí thứ năm, Chương Quyền công dân của Hiến pháp năm 1992 được chuyển lên vị trí thứ hai trong Hiến pháp năm 2013, thể hiện sự quan tâm vượt bậc, cũng như nhận thức của các nhà lập hiến Việt Nam về tầm quan trọng của quyền con người và quyền công dân.

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quá trình soạn thảo Chương về Quyền con người và quyền công dân đã được tham khảo, đối chiếu một cách tương đối toàn diện với tiêu chuẩn của các quy định nhân quyền của các Công ước quốc tế, mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

Có thể thấy Hiến pháp năm 2013 có một số thay đổi cụ thể như sau:

- Không còn đồng nhất “quyền con người” với “quyền công dân” như ở Điều 50 Hiến pháp năm 1992, mà sử dụng khá hợp lý hai thuật ngữ này cho từng lĩnh vực cụ thể khi Hiến pháp quy định các quyền/tự do của cá nhân có quốc tịch Việt Nam - công dân và cá nhân không có quốc tịch Việt Nam - quyền con người. Bên cạnh đó, trong Hiến pháp năm 2013, nhiều khi vẫn cần thiết quy định có sự phân biệt giữa quyền con người và quyền công và ngược lại, nhiều khi lại không phân biệt giữa chúng.

- Đã thay đổi, tuy chưa triệt để về cách thức hiến định về các quyền con người, từ công thức Nhà nước “quyết định”, “trao” quyền cho người dân sang công thức các quyền của con người là tự nhiên, vốn có, Nhà nước phải ghi nhận, phải có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện cho tất cả mọi người, mọi công dân, không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính ...

- Ghi nhận cả ba nghĩa vụ cơ bản của Nhà nước: tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người.

- Ghi nhận một số quyền mới bao gồm: quyền sống; các quyền về văn hóa; quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp; quyền của công dân không bị trục xuất, giao nộp cho nước khác.

- Đã củng cố hầu hết các quyền hiện có (quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng), bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật; Cấm tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục; Bảo vệ đời tư; Tiếp cận thông tin; Tham gia quản lý nhà nước và xã hội; Bỏ phiếu trong trưng cầu ý dân; Xét xử công bằng; Tư hữu tài sản; An sinh xã hội; Nơi ở hợp pháp ...

- Ghi nhận một số quyền mới bao gồm: quyền sống; các quyền về văn hóa; quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp; quyền của công dân không bị trục xuất, giao nộp cho nước khác.

- Đã củng cố hầu hết các quyền hiện có (quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng), bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật; Cấm tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục; Bảo vệ đời tư; Tiếp cận thông tin; Tham gia quản lý nhà nước và xã hội; Bỏ phiếu trong trưng cầu ý dân; Xét xử công bằng; Tư hữu tài sản; An sinh xã hội; Nơi ở hợp pháp ...

- Bổ sung một nguyên tắc hiến định, đó là quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng.

5. Việc hạn chế quyền con người

Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định về việc hạn chế quyền con người:“Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị giới hạn theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức, sức khỏe của cộng đồng”.

Hiến định nguyên tắc này đã thể hiện một bước tiến gần đến chuẩn mực của các bộ luật quốc tế về quyền con người và các hiến pháp tiến bộ trên thế giới. Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948 (Universal Declaration of Human Rights), văn bản được coi là kết tinh của tinh hoa và chuẩn mực toàn cầu, đã quy định nguyên tắc này tại Điều 29: “Trong việc thực thi các quyền và tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng quyền và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ”. Nhưng trong khi đề cập đến vấn đề hạn chế thực hiện quyền, quy định của Hiến pháp năm 2013 nêu trên đã không kèm theo những ngoại trừ với các quyền tuyệt đối (non-derogable rights) mà theo luật nhân quyền quốc tế, các quốc gia không được phép giới hạn hay đình chỉ thực hiện trong bất kỳ bối cảnh nào. Đó là các quyền không bị tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay nhục hình; quyền không bị bắt làm nô lệ, nô dịch; quyền được suy đoán vô tội; quyền được thừa nhận tư cách thể nhân trước pháp luật và quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo. Thiếu sót này vô hình trung có thể sẽ tạo cơ sở cho việc lợi dụng quy định về tình trạng khẩn cấp để vi phạm các quyền tuyệt đối.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)