Phân loại quyền con người là gì? Phân loại theo những lĩnh vực cụ thể nào?


Các quyền con người được thế giới thừa nhận, bảo vệ và được tuyên bố trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế mà đặc biệt là trong ba vãn kiện quan trọng nhất được coi là Bộ luật quốc tế về quyền con người (UDHR, ICCPR,ICESCR )

1. Khái quát về phân loại quyền con người

Quyền con người có phạm vi và nội dung rất rộng nên thường được chia ra thành các nhóm theo những tiêu chí khác nhau. Việc phân loại như vậy cho phép nhìn nhận rõ hơn đặc điểm, tính chất, và những yêu cầu đặc thù trong việc bảo đảm mỗi loại quyền con người.

Tuy nhiên phân loại chỉ nhằm mục đích nghiên cứu và thực thi, chứ không nhằm xếp loại theo thứ tự ưu tiên hay tầm quan trọng của các quyền con người, bởi như đã đề cập ở phần trên, việc bảo đảm tất cả các quyền con người đều nằm trong mối liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau và đều phải coi trọng như nhau. Thực tế cho thấy, mọi sự hạn chế về tự do cá nhân (các quyền dân sự, chính trị) đều sẽ làm suy yếu sự phát triển mọi mặt của quốc gia và do đó làm giảm mức độ hưởng thụ các quyền về kinh tế, văn hoá, xã hội của người dân. Trong khi đó, sự nghèo nàn về các điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội chắc chắn làm tổn hại đến khả năng và mức độ tham gia của người dân vào đời sống chính trị của đất nước. Nói cách khác, việc bảo đảm tốt các quyền dân sự, chính trị sẽ thúc đẩy sự hưởng thụ các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá và ngược lại.  Theo một nhà nghiên cứu khác thì những ưu tiên (trong việc thực hiện quyền con người) nếu như là cần thiết, thì cần phải được xác định phù hợp với những khái niệm và nguyên tắc cốt lõi trên lĩnh vực này (chẳng hạn như nguyên tắc không phân biệt đối xử, nguyên tắc bình đẳng và tham gia)

Các quyền con người được thế giới thừa nhận, bảo vệ và được tuyên bố trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế mà đặc biệt là trong ba vãn kiện quan trọng nhất được coi là Bộ luật quốc tế về quyền con người đó là: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (The Universal Declaration of Human Rights - UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (International Covenant on Economic, Social and Culturaỉ Rights - ICESCR). Xem xét ba văn kiện quan trọng trên, chúng ta có thể phân chia quyền con người thành 2 nhóm: Các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội.

2. Phân loại theo lĩnh vực

Theo các lĩnh vực của đời sống nhân loại, quyền con người được phân thành hai nhóm chính: các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Đây cũng là cách phân chia được sử dụng khi soạn thảo hai công ước quốc tế cơ bản về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1966 (Công ước về các quyền chính trị, dân sự và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá).

Tùy theo nhu cầu nghiên cứu, cũng có thể chia ra thành năm nhóm nhỏ hơn (gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa), trong đó các quyền dân sự thông thường bao gồm quyền sống; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm; quyền tự do đi lại; các quyền về tài sản...); các quyền chính trị bao gồm quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tham gia quản lý xã hội...; các quyền kinh tế bao gồm quyền được hưởng mức sống thích đáng; quyền tự do kinh doanh; quyền lao động...; các quyền xã hội bao gồm quyền được hưởng an sinh xã hội...; và các quyền văn hoá bao gồm quyền được giáo dục, quyền được tham gia và hưởng thụ đời sống văn hoá...).

Trên thực tế, việc bảo đảm cả hai nhóm quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa đều có tính chất chủ động và thụ động. Vì vậy, việc xác định một nhóm quyền nào hoàn toàn là thụ động và nhóm kia hoàn toàn chủ động có thể ảnh hưởng đến việc hiện thực hóa các quyền trên thực tế. Ví dụ, để chấm dứt việc tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo với những người bị giam giữ (một quyền con người về dân sự), một quốc gia không thể chỉ thụ động trong hành động, mà phải chủ động đề ra các kế hoạch và thực thi các biện pháp như sửa đổi các quy định pháp luật có liên quan, tuyên truyền, giáo dục, tập huấn cho quan chức thực thi pháp luật…

Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (cơ quan giám sát Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa - ICESCR) đã đưa ra khái niệm về “những nghĩa vụ cơ bản tối thiểu” “minimum core obligations” làm tiêu chí đánh giá việc thực thi nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước.154 Khái niệm “các nghĩa vụ cơ bản tối thiểu” sau đó được cụ thể hóa trong văn kiện có tên gọi là Các nguyên tắc Limburg (the Limburg Principles)255 - được thông qua tại một hội nghị gồm các chuyên gia về quyền con người tổ chức ở Đại học tổng hợp Limburg (Maastricht, Hà Lan) và các thành viên của Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Theo văn kiện này, các quốc gia sẽ bị coi là vi phạm nghĩa vụ theo ICESCR trong các trường hợp:

- Không thực hiện các biện pháp được quy định để bảo đảm thực hiện các quyền trong công ước.

- Không nhanh chóng xóa bỏ các trở ngại với việc bảo đảm các quyền mà theo công ước cần phải xóa bỏ ngay. - Không tổ chức thực hiện ngay các quyền mà công ước yêu cầu phải thực hiện ngay.

- Chủ ý không bảo đảm các tiêu chuẩn tối thiểu đã được cộng đồng quốc tế chấp thuận trong điều kiện có thể bảo đảm được. - Đưa ra hạn chế với một quyền được ghi nhận trong công ước mà không phù hợp với quy định của công ước.

- Trì hoãn hoặc đình chỉ việc bảo đảm một quyền, trừ khi việc đó phù hợp với những giới hạn cho phép trong công ước hoặc do thiếu nguồn lực.

- Không nộp báo cáo quốc gia về việc thực hiện công ước lên ủy ban giám sát. Ngoài ra, cần thấy rằng các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa có giá trị thực chất vì có những tiêu chí để các cơ quan tài phán có thể xem xét xử lý những vi phạm các quyền này. Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa đã xác định những vi phạm sau đây hoàn toàn có thể được đem ra xem xét tại các cơ quan tài phán156:

- Sự phân biệt đối xử trong việc hưởng thụ các quyền (Điều 3 của ICESCR).

- Vi phạm các nguyên tắc về trả công thích đáng và bình đẳng, đặc biệt là nguyên tắc trả công như nhau cho các công việc như nhau mà có thể do nam giới và phụ nữ thực hiện (Điều 7).

- Quyền được thành lập các nghiệp đoàn và quyền được đình công (Điều 8).

- Việc bảo vệ trẻ em khỏi bị bóc lột về kinh tế và xã hội (Điều 10).

- Việc thực hiện giáo dục tiểu học phổ cập miễn phí và bắt buộc (Điều 13 Khoản 2).

- Quyền của các bậc cha mẹ được chọn trường cho con cái họ và được giáo dục đạo đức và tôn giáo cho con cái tùy theo đức tin của họ (Điều 13 Khoản 3).

- Quyền được thành lập và quản lý các cơ sở giáo dục (Điều 13 Khoản 4).

- Tự do nghiên cứu khoa học và hoạt động sáng tạo (Điều 15).

3. Phân loại theo chủ thể của quyền

Chủ thể chính của quyền con người là các cá nhân nên khi nói đến quyền con người về cơ bản là nói đến các quyền cá nhân(individual rights). Dù vậy, bên cạnh các cá nhân, chủ thể của quyền con người cũng bao gồm các nhóm xã hội nhất định, và bởi vậy, bên cạnh các quyền cá nhân, người ta còn đề cập các quyền của nhóm (group rights).

Khái niệm quyền của nhóm còn được mở rộng để chỉ các quyền của một dân tộc (people’s rights) cụ thể như quyền tự quyết dân tộc, quyền được bảo tồn tài nguyên và đất đai truyền thống của các dân tộc bản địa…

Có quan điểm cho rằng, quyền của nhóm không thực sự là các quyền con người, theo họ bởi lẽ:

Thứ nhất, các quyền của nhóm không phải là những quyền áp dụng cho mọi thành viên của nhân loại, do đó không phù hợp với tính chất phổ quát của quyền con người.

Thứ hai, việc quy định các quyền đặc thù cho một nhóm nhất định là đi ngược với nguyên tắc cơ bản của luật nhân quyền quốc tế, đó là tất cả các quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người, không phân biệt dân tộc, chủng tộc, sắc tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, ngôn ngữ, xuất thân, quan điểm chính trị…và bất kỳ yếu tố nào khác.

Bình đẳng về quyền có nghĩa là mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại đều có cơ hội được hưởng các quyền như nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh, năng lực sẵn có như nhau. Như vậy, các nhóm xã hội phải chịu những thiệt thòi và có xuất phát điểm thấp hơn xứng đáng và cần thiết được hưởng các quyền đặc thù (các quyền của nhóm) để có thể đạt được sự bình đẳng thực chất với các nhóm khác trong việc hưởng thụ các quyền con người. Liên quan đến vấn đề này, trong Tuyên bố Viên và Chương trình hành động thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai, quyền của các nhóm như phụ nữ, trẻ em, người thiểu số, người bản địa,v.v.. được đề cao và được xác định đó là các quyền con người.

Xét ở phạm vi rộng hơn, quyền của hầu hết các nhóm xã hội, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người thiểu số, người bản địa, người không quốc tịch, người lao động di trú, người sống chung với HIV/AIDS, người bị tước tự do, người cao tuổi,v.v.. đều đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, dưới các hình thức điều ước hoặc tuyên bố, khuyến nghị...Bởi vậy, có thể khẳng định rằng, các quyền của nhóm cũng là quyền con người. Mặc dù nhìn chung các quyền cá nhân và quyền của nhóm hỗ trợ, bổ sung cho nhau, song cũng có trường hợp mâu thuẫn nhau. Đơn cử, một cá nhân là thành viên của một công đoàn có thể mong muốn ký kết hợp đồng lao động dưới danh nghĩa cá nhân thay cho việc cùng với các thành viên khác của công đoàn tiến hành đàm phán với người sử dụng lao động để ký kết một thỏa ước tập thể…

Trong những trường hợp như vậy, việc theo đuổi các quyền cá nhân có thể làm tổn hại đến quyền của nhóm và ngược lại. Điều này cho thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp giải quyết các xung đột có thể xảy ra, làm hài hoà các quyền của nhóm và quyền cá nhân.

4. Phân loại theo những tiêu chí khác

4.1. Quyền cụ thể và quyền tự nhiên

- Quyền tự nhiên (natural rights) và quyền pháp lý (legal rights ) Quyền tự nhiên là những quyền được cho là quan trọng cho mọi con người, loài động vật hoặc thậm chí là mọi sinh vật. ... Locke nói rằng các quyền tự nhiên quan trọng nhất là "quyền sống, tự do và sở hữu". Trong Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ năm 1776, các quyền tự nhiên được bao gồm là "quyền sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc".

- Quyền cụ thể (explicit rights) và quyền hàm chứa (unenumerated rights): Sự phân biệt giữa hai loại quyền này chủ yếu dựa vào khía cạnh pháp điển hóa. Quyền cụ thể chỉ những quyền được quy định rõ bởi Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế khác hay các nhà nước (ví dụ, các quyền sống; quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, danh dự, nhân phẩm; quyền bầu cử, ứng cử…), trong khi quyền hàm chứa chỉ những quyền tuy chưa được nêu rõ, nhưng có thể suy ra từ nội hàm của các quy định pháp lý đã có hoặc từ lý luận và thực tiễn về quyền (ví dụ, trong quyền sống thì có quyền của những người bị bệnh hiểm nghèo được giúp đỡ để chết nhằm giải thoát khỏi sự bế tắc và đau đớn; trong quyền tự do hôn nhân thí có quyền kết hôn và lập gia đình của những người đồng tính…) Trong khi các quyền cụ thể đã được chấp nhận một cách phổ biến thì nhiều quyền hàm chứa vẫn còn là chủ đề gây tranh cãi, cả về tên gọi và nội hàm của chúng.

4.2. Quyền thụ động

 Quyền thụ động (negative rights) và quyền chủ động (positive rights): Sự phân biệt giữa hai loại quyền này chủ yếu dựa vào cách thức thực thi/bảo đảm. Quyền thụ động đòi hỏi các chủ thể khác phải kiềm chế không can thiệp vào việc thực thi/hưởng thụ quyền của chủ thể quyền (ví dụ, để bảo đảm quyền được biểu đạt của một cá nhân, chủ yếu đòi hỏi nhà nước và các chủ thể khác không ngăn cấm hoặc can thiệp vô lý vào việc trao đổi ý kiến, quan điểm của chủ thể quyền...) Trong khi đó, quyền chủ động đòi hỏi các chủ thể khác phải có nghĩa vụ tương ứng phải hành động để bảo đảm quyền của chủ thể quyền (ví dụ, để bảo đảm quyền có mức sống thích đáng của công dân, các nhà nước có nghĩa vụ thực thi các biện pháp có thể để hỗ trợ người dân có thu nhập và bảo đảm các điều kiện sống…) Theo quan điểm này thì quyền thụ động chủ yếu nói đến các quyền dân sự, chính trị; trong khi quyền chủ động chủ yếu đề cập đến các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa.

4.3. Quyền tuyệt đối, quyền tự do hành động và quyền có thể bị hạn chế

 Quyền tuyệt đối (absolute rights) và quyền có điều kiện (conditional rights): Sự phân biệt giữa hai loại quyền này chủ yếu dựa vào điều kiện hưởng thụ quyền. Quyền tuyệt đối là những quyền phải được tôn trọng và áp dụng trong mọi hoàn cảnh và không cần điều kiện gì kèm theo (ví dụ, quyền sống; quyền không bị tra tấn, nhục hình, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo…) trong khi quyền có điều kiện là những quyền chỉ được áp dụng nếu thỏa mãn những yêu cầu nhất định (ví dụ, quyền được kết hôn; quyền bầu cử, ứng cử…đòi hỏi chủ thể quyền phải đáp ứng các yêu cầu về độ tuổi và về năng lực hành vi). 48

Quyền tự do hành động (liberty rights) và quyền đòi hỏi/thỉnh cầu (claim rights): Ranh giới giữa hai loại quyền này khá trừu tượng, liên quan đến hai khía cạnh chính là sự thừa nhận và cách thức bảo đảm quyền. Loại quyền tự do hành động (trong luật nhân quyền quốc tế thường được gọi là những tự do cơ bản – fundamental freedoms; ví dụ, tự do biểu đạt; tự do đi lại; tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; tự do ngôn luận và báo chí…) hàm chứa sự tự chủ (nhưng không phải hoàn toàn) của chủ thể quyền trong việc thực hiện hành động; trong khi loại quyền đòi hỏi/thỉnh cầu (ví dụ, quyền được xét xử công bằng; quyền được bầu cử, ứng cử…) hàm chứa sự phụ thuộc (ở mức độ nhất định) của chủ thể quyền vào những chủ thể khác khi thực hiện hành động. Hai loại quyền này có mối quan hệ tương tác (hạn chế) lẫn nhau. Ví dụ: quyền được xét xử công bằng của bị can, bị cáo giúp hạn chế khả năng các tòa án tùy tiện đưa ra những quyết định thiên vị về vụ việc; quyền tự do ngôn luận và báo chí có thể làm ảnh hưởng đến quyền được bảo vệ đời tư của người khác.

 Quyền có thể bị hạn chế (derogatable rights) và quyền không thể bị hạn chế (non-derogatable rights): Vấn đề này chủ yếu nói đến các quyền dân sự, chính trị. Ranh giới giữa hai loại quyền này liên quan đến việc áp dụng chúng trong những bối cảnh khẩn cấp của quốc giac

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

 

 

5 sao của 1 đánh giá

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày

Dịch vụ nổi bật