1. Khái quát các Hiệp định thương mại tự do năm 1973
Sau khi Anh và Đan Mạch ra khỏi EFTA và tham gia EEC năm 1973, các hiệp định thương mại tự do giữa EEC và các nước còn lại trong EFTA được ký kết. Cùng thời gian đó các hiệp định riêng rẽ giữa các Nhà nước EFTA và các thành viên của Cộng đồng Thép và Than Châu Âu (ECSC) được ký kết với mục đích đưa ra các quy định buôn bân sắt thép và than tương tự như các sản phâm công nghiệp khác. Mặc dù các hiệp định này đã tạo ra mối quan hệ pháp lý riêng biệt giữa một bên là từng thành viên của EFTA với phái bên kia là EEC và ECSC, nhưng về nội dung thì tương tự như nhau.
Đối với phần lớn các nước EFTA, các hiệp định thương mại tự do trong thực tế đã được thay thế bởi Hiệp định về Khu vực Kinh tế Châu Âu (EEA). Riêng Thuỵ Sĩ là nước không phê chuẩn EEA và chờ hiệu lực của các cuộc đàm phán song phương vừa được ký kết trong một số lĩnh vực chọn lọc thì hiệp định vẫn là cơ sở pháp lý trong buôn bán với EU. Vì vậy, những nhận xét sau đây là đối với quan hệ Thụy SĨ-EEC và các hiệp định thương mại tự do ECSC.
Đối với phạm vi sản phẩm, các hiệp định thương mại có nhiều điều khoản áp dụng cho các sản phẩm thuộc Chương 25 đến Chương 97 của Hệ thống HS trừ hóa chất Casein và một số hợp chất Albumin và Dextrin. Các quy định về mặt hàng nông sản chế biến được ghi rõ trong Nghị định thư số 2, trong khi có một số thoả thuận đặc biệt dành cho một số nông sản cơ bản.
Các hiệp định thương mại tự do quy định việc bãi bõ thuế quan, câc khoản thu tương tự thuế, và hạn chế định lượng trong thời kỳ chuyên tiếp 4 năm rưỡi. Tuy nhiên đối với một số mặt hàng nhạy cảm như kim loại và giấy, EEC có thể vẫn duy trì thuế nhập khẩu theo thứ tự cho đến năm 1980 và 1984. Thụy Sĩ cũng được phép duy trì các thuế suất tài chính vốn đã được thay thế bởi các loại thuế nội địa lúc đó và hệ thống dự trữ đối với nhiều sản phẩm vốn được coi là thiết yếu trong thời kỳ chiến tranh mà không được sản xuất hoặc sản xuất không đủ số lượng tại Thuy Sĩ. Sự loại bỏ dần dần ngoại lệ này hiện đang được xem xét.
2. Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA)
Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) được thành lập ngày 3.5.1960 như một khối mậu dịch khác cho các nước châu Âu, do không đủ khả năng hoặc chọn không gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) thời đó (nay là Liên minh châu Âu (EU)).
Hiệp ước EFTA được ký ngày 4.1.1960 tại Stockholm bởi 7 nước bên ngoài (Cộng đồng kinh tế châu Âu thời đó). Ngày nay chỉ còn Iceland, Na Uy, Thụy Sĩ và Liechtenstein vẫn còn là hội viên của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) (trong đó Na Uy và Thụy Sĩ là các hội viên sáng lập). Sau đó Hiệp ước Stockholm được thay thế bằng Hiệp ước Vaduz.
Hiệp ước này cho phép tự do hóa việc buôn bán trong các nước hội viên. Ba nước hội viên Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) là thành phần của Thị trường chung Liên minh châu Âu thông qua Thỏa ước về Khu vực kinh tế châu Âu (EEA), có hiệu lực từ năm 1994. Nước hội viên thứ tư của EFTA – Thụy Sĩ - chọn ký kết một thỏa ước song phương với Liên minh châu Âu. Ngoài ra, các nước Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) cũng ký chung các thỏa hiệp mậu dịch tự do với nhiều nước khác.
Năm 1999 Thụy Sĩ ký một bộ thỏa hiệp song phương với Liên minh châu Âu bao trùm nhiều lãnh vực, trong đó có sự phá bỏ các hàng rào cản trở buôn bán như việc di chuyển nhân công cùng vận tải hàng hóa và kỹ thuật giữa đôi bên. Sự tiến triển này thúc đẩy các nước Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) hiện đại hóa Hiệp ước của mình để bảo đảm là sẽ tiếp tục tạo ra một khuôn khổ đầy thành công cho việc mở rộng và tự do hóa việc buôn bán trong các nước hội viên và với thế giới.
Các nước hội viên sáng lập Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) là Áo, Đan Mạch, Na Uy, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh. Trong thập niên 1960 các nước này thường được ám chỉ là 7 nước bên ngoài, đối lập với 6 nước bên trong của Cộng đồng kinh tế châu Âu thời đó.[1] Phần Lan trở thành hội viên hợp tác năm 1961 (trở thành hội viên hoàn toàn năm 1986), và Iceland gia nhập năm 1970. Vương quốc Anh và Đan Mạch gia nhập Cộng đồng châu Âu năm 1973 (cùng với Ireland), và vì thế không còn là hội viên của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA). Bồ Đào Nha cũng lìa bỏ Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) để gia nhập Cộng đồng châu Âu năm 1986. Liechtenstein gia nhập Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) năm 1991 (trước đây quyền lợi của nước này trong Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA) được Thụy Sĩ đại diện). Cuối cùng, Áo, Thụy Điển và Phần Lan cũng gia nhập Liên minh châu Âu năm 1995 và vì thế ngưng chức hội viên của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association - EFTA).
3. Cộng đồng Kinh tế châu Âu (European Economic Community - EEC)
Cộng đồng Kinh tế châu Âu (European Economic Community - EEC) cũng gọi đơn giản là Cộng đồng châu Âu, ngay cả trước khi nó được đổi tên chính thức thành Cộng đồng châu Âu vào năm 1993, hoặc Thị trường chung (Common Market) ở các nước nói tiếng Anh, là một tổ chức quốc tế được thành lập năm 1957 đem tới việc hội nhập kinh tế (gồm một thị trường chung) giữa các nước Bỉ, Pháp, Tây Đức, Ý, Luxembourg và Hà Lan.
Sau đó được mở rộng thêm 6 nước khác gia nhập, và từ năm 1967, các cơ quan thể chế của Cộng đồng cũng điều khiển Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (EAEC hoặc Euratom) dưới tên Các cộng đồng châu Âu. Khi Liên minh châu Âu (EU) được thành lập năm 1993, thì "Cộng đồng Kinh tế châu Âu" biến đổi thành Cộng đồng châu Âu, một trong 3 trụ cột của Liên minh châu Âu, và các cơ quan của "Cộng đồng Kinh tế châu Âu" tiếp tục là cơ quan của Liên minh châu Âu.
4. Sự thành lập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (European Economic Community - EEC)
Các cộng đồng được thành lập là Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (EAEC hoặc Euratom). Các cộng đồng này rõ ràng là ít siêu quốc gia hơn các cộng đồng dự trù trước kia, do việc phản đối của một số nước, cho là chủ quyền của họ bị xâm phạm. Cuộc họp chính thức đầu tiên của Ủy ban Hallstein, diễn ra ngày 16.1.1958 tại Lâu đài Val Duchesse. Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã lập ra liên minh thuế quan trong khi Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu thúc đẩy việc hợp tác trong lãnh vực năng lượng nguyên tử. Cộng đồng Kinh tế châu Âu nhanh chóng trở thành quan trọng nhất trong 3 cộng đồng, và mở rộng các hoạt động của mình. Một trong các thực hiện quan trọng đầu tiên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu là lập ra mức giá chung cho các sản phẩm nông nghiệp (1962). Năm 1968, các thuế quan trên một số sản phẩm buôn bán giữa các nước thành viên đã được bãi bỏ.
Một khủng hoảng khác đã xảy ra đối với các đề nghị tài trợ Chính sách Nông nghiệp chung, có hiệu lực từ năm 1962. Thời gian quá độ nhờ đó các quyết định được đưa ra bằng cách nhất trí đã chấm dứt, và cuộc bỏ phiếu đa số trong Hội đồng đã có hiệu lực. Việc chống đối chủ trương siêu quốc gia của Tổng thống Pháp thời đó Charles de Gaulle dẫn tới "chính sách bỏ trống ghế" do các đại diện của Pháp rút khỏi các cơ quan của Cộng đồng, cho tới khi quyền phủ quyết của Pháp được phục hồi. Cuối cùng, đạt tới thỏa hiệp Luxembourg ngày 29.1.1966 do đó một thoả thuận của người quân tử (gentlemen's agreement) cho phép các thành viên sử dụng quyền phủ quyết trên các lĩnh vực quyền lợi quốc gia.
Năm 1967 Hiệp ước Hợp nhất đã có tác dụng, hợp nhất các cơ quan của Cộng đồng Than Thép châu Âu và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu với các cơ quan của Cộng đồng Kinh tế châu Âu, các cơ quan này vốn đã dự phần vào Nghị viện châu Âu và Tòa án Cộng đồng châu Âu. Một cách tập thể, chúng được gọi là Các cộng đồng châu Âu. Các cộng đồng này vẫn có tư cách pháp nhân độc lập, dù đã gia tăng hội nhập. Vì nó gần sát với mục tiêu hội nhập chính trị và thống nhất châu Âu một cách hòa bình, nên Mikhail Gorbachev đã mô tả là Ngôi nhà chung châu Âu (Common European Home).
5. Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC)
Các Cộng đồng Than Thép châu Âu ( ECSC ) là một tổ chức của sáu quốc gia châu Âu tạo ra sau Thế chiến II để điều chỉnh sản xuất công nghiệp của họ dưới một quyền lực tập trung. Nó được chính thức thành lập vào năm 1951 theo Hiệp ước Paris, được ký kết bởi Bỉ , Pháp , Ý , Luxembourg , Hà Lan và Tây Đức . Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) là tổ chức quốc tế đầu tiên dựa trên các nguyên tắc của chủ nghĩa siêu quốc gia , [2] và bắt đầu quá trình hội nhập chính thức mà cuối cùng dẫn đếnLiên minh Châu Âu .
Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) lần đầu tiên được đề xuất bởi ngoại trưởng Pháp Robert Schuman vào ngày 9 tháng 5 năm 1950 như một cách để ngăn chặn chiến tranh giữa Pháp và Đức . Ông tuyên bố mục đích của mình là "làm cho chiến tranh không chỉ là điều không tưởng mà còn là điều không thể xảy ra về mặt vật chất" [3] mà mục tiêu đạt được bằng hội nhập khu vực, trong đó Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) là bước đầu tiên. Hiệp ước sẽ tạo ra một thị trường chung cho than và thép giữa các quốc gia thành viên nhằm trung hòa sự cạnh tranh giữa các quốc gia châu Âu về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là ở Ruhr .
Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) được giám sát bởi bốn cơ quan: Cơ quan quyền lực cao bao gồm những người được bổ nhiệm độc lập, Hội đồng chung gồm các nghị sĩ quốc gia, Hội đồng đặc biệt bao gồm các bộ trưởng quốc gia và Tòa án công lý. Những điều này cuối cùng sẽ hình thành kế hoạch chi tiết cho Ủy ban Châu Âu ngày nay , Nghị viện Châu Âu , Hội đồng Liên minh Châu Âu và Tòa án Công lý Châu Âu .
Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) là hình mẫu cho các cộng đồng được thành lập sau Hiệp ước Rome năm 1957, Cộng đồng Kinh tế Châu Âu và Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử Châu Âu , mà nó chia sẻ tư cách thành viên và một số tổ chức . Hiệp ước Sáp nhập (Brussels) năm 1967 khiến tất cả các tổ chức của Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) hợp nhất thành Cộng đồng Kinh tế Châu Âu , nhưng Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) vẫn giữ tính cách pháp lý độc lập của riêng mình. Năm 2002, Hiệp ước Paris hết hiệu lực và Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) không còn tồn tại dưới mọi hình thức, các hoạt động của nó được Cộng đồng Châu Âu tiếp thu hoàn toàn theo khuôn khổ của các hiệp ước Amsterdam và Nice.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng!
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).