1. Chính sách đầu tư quốc tế là gì ?

Quá trình thiết lập và điều chỉnh chính sách đầu tư cũng sẽ ảnh hưởng tới những quyết định đầu tư. Những yếu tố cần quan tâm hàng đầu trong việc thiết lập chính sách đầu tư là tính minh bạch, có thể dự đoán được và sự đáng tin cậy. Chính sách đàu tư của một nước có thể gộp chung cả đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài vào cùng một bộ luật hoặc đứng riêng trong hai bộ luật khác nhau. Những chính sách đầu tư có thể thể hiện mức độ mở cửa của nền kinh tế, sự bảo hộ đối với các nhà đầu tư và bao gồm những hạn chế khi đầu tư tại một quốc gia đều sẽ được quy định rõ trong luật hay các quy định thực hiện. Những danh sách hạn chế bao gồm các phân ngành và lĩnh vực cấm vốn đầu tư tư nhân, lĩnh vực chỉ dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) hoặc những lĩnh vực hạn chế đối với đầu tư nước ngoài. Với việc tăng cường tính minh bạch và khả năng dự đoán, bộ luật đầu tư có thể đóng vai trò như một công cụ dự báo, định hướng, do đó tạo nên sức hấp dẫn của nước tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia, gồm cả những nước thành viên của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) không có luật đầu tư cụ thể. Tuy nhiên, việc có một bộ luật đầu tư chính thức không phải là điều kiện tiên quyết để có được một khung chính sách đàu tư hợp lý. Chính sách đầu tư có thể được đưa vào các văn bản pháp luật khác như Hiến pháp, hay bộ luật quy định liên quan đến các công ti hoặc luật cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể.

Một khung chính sách đàu tư quốc tế rõ ràng, minh bạch và có thể dự đoán được là một trong những yếu tố quyết định thu hút đầu tư. Nguyên nhân là do các nhà đầu tư nước ngoài là những người trực tiếp tham gia hoạt động trong các hệ thống quản lý, khung pháp lý và văn hóa khác hoàn toàn với quốc gia mình. Sự không chắc chắn trong các quy định và pháp luật đầu tư quốc tế của một quốc gia có thể dẫn tới việc khiến cho chi phí đầu vào tăng khiến các công ti nước ngoài e ngại, hạn chế đầu tư. Hơn nữa, sự mơ hồ trong hệ thống pháp luật cũng có thể gây ra thực ưạng tham nhũng, bởi lẽ khi đó các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tìm cách để bảo vệ hoặc gia tăng lợi ích của mình. Chính vì vậy, xu hướng chính sách đầu tư quốc tế được rất nhiều quốc gia tham gia hưởng ứng và hưởng lợi khá nhiều từ chính những quyết sách đầu tư hiệu quả.

Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển (United Nations Conference on Trade and Development - UNCTAD) đã chỉ ra xu hướng chính sách đầu tư quốc tế mới, hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích cho cả quốc gia đầu tư và quốc gia nhận đầu tư. Cụ thể:

+ Giám sát các hoạt động tiếp quản có yếu tố nước ngoài đang được tăng cường.

Các chính sách đầu tư quốc gia mới đo lường chủ yếu là hoạt động tự do hóa và xúc tiến đầu tư. UNCTAD đã chỉ ra trong năm 2017, có 65 quốc gia và nền kinh tế đã áp dụng ít nhất 126 chính sách đầu tư mà có tác động đến đầu tư nước ngoài - đây là số lượng quốc gia và các thay đổi chính sách cao nhất trong thập kỉ qua. Trong số các biện pháp này có 93 biện pháp liên quan đến tự do hóa và thúc đẩy đầu tư, trong khi đó chỉ có 18 biện pháp hạn chế hoặc quy định (15 biện pháp còn lại là trung lập). Có thể thấy, tự do hóa và xúc tiến đầu tư chiếm tới 84% trong những thay đổi chính sách đầu tư. Nguồn: UNCTAD (2018)

Hạn chể đầu vào nguồn đầu tư nước ngoài đã được nới lỏng tại một số ngành công nghiệp như vận tải, năng lượng, sản xuất với các nền kinh tế mới nổi tại châu Á hoạt động tích cực nhất. Nhiều quốc gia khuyến khích đầu tư bằng cách đom giản hóa các thủ tục hành chính, đưa ra các ưu đãi và thành lập các đặc khu kinh tế mới. Những hạn chế đầu tư và quy định mới này chủ yếu là do lo ngại về an ninh quốc gia và quyền sở hữu nước ngoài đối với đất đai và tài nguyên thiên nhiên.

Mặc dù xu hướng chung là hướng tới tự do hóa hoặc các biện pháp xúc tiến đầu tư trong năm 2017, tỉ lệ các chính sách hạn chế và quy định mới đã gia tăng đáng kể trong thời gian gần đây. Từ tháng 10/2017 đến tháng 4/2018, có khoảng 30% các chính sách đầu tư mới được đưa ra mang tính hạn chế cao hơn. Một số quốc gia có lập trường cứng rắn hơn trong việc giám sát các hoạt động tiếp quản có yếu tố nước ngoài, đặc biệt liên quan đến an ninh quốc gia hoặc bán tài sản chiến lược trong nước và công nghệ được giám sát cẩn thận hơn. Ngoài ra, các lựa chọn để gia tăng hơn nữa cơ chế sàng lọc đầu tư nước ngoài cũng đã được thảo luận tại một số quốc gia.

+ Gia tăng các Hiệp ước đầu tư mới

Số lượng các Hiệp ước đầu tư quốc tế mới (IIA) được kí kết trong năm 2017 là thấp nhất kể từ năm 1983. Các quốc gia đã kí kết 18 HA mới - 9 Hiệp ước đầu tư song phương (BIT) và 9 Hiệp ước với các điều khoản đầu tư (TIP). Nền kinh tế tích cực nhất là Thổ Nhĩ Kỳ với 4 Hiệp ước, tiếp theo là Hồng Kông (Trung Quốc) và Trung Quốc với 02 Hiệp ước. Từ giữa tháng 1 đến tháng 3/2018 có 3 IIA bổ sung đã được kí kết. Hơn nữa, trong thời gian đầu tiên, số lượng chấm dứt các Hiệp ước là 22 so với số lượng kí kết mới là 18. Điểm đặc biệt tích cực trong Hiệp ước chấm dứt phải kể đến giữa An Độ và Ecuador. Chính điều này đã giúp nâng quy mô của HA đạt 3.322 thỏa thuận (2.946 BIT và 376 TIP), trong đó có 2.638 có hiệu lực vào cuối năm 2017 (Hình 3.3).

Các cuộc đàm phán cho các thỏa thuận khu vực lớn luôn được cố gắng duy trì, đặc biệt ở châu Phi và châu Á. Cộng đồng châu Âu (EU) tiếp tục một số cuộc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA), bao gồm cả Nhật Bản. Các cuộc tái đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), bao gồm các chương về đầu tư đã bắt đầu khởi động. Ngoài ra, một số nhóm quốc gia đang phát triển nguyên tắc hướng dẫn không ràng buộc để hoạch định chính sách đầu tư

Trong năm 2017, có ít nhất 65 trường hợp ISDS dựa trên Hiệp ước mới được khởi động, nâng tổng số trường hợp được biết đến lên 855. Cho đến nay đã có 113 quốc gia phản hồi cho một hoặc nhiều khiếu nại của các trường hợp ISDS. Năm 2017, các tòa án giải quyết ISDS đã đưa ra ít nhất 62 phán quyết về các vụ việc ISDS. Trong tổng số các trường hợp được biết đã quyết định về giá trị và các nhà đầu tư đã giảm được khoảng 60%.

+ Cải cách IIA đang được tiến hành trên tất cả các khu vực

Kể từ năm 2012, hon 150 quốc gia đã thực hiện từng bước để hình thành một thế hệ HA định hướng phát triển bền vững (giai đoạn 1 của cải cách IIA). Ví dụ, các quốc gia này đã xem xét các mạng lưới Hiệp ước và các mô hình Hiệp ước sửa đổi phù họp với Gói cải cách của UNCTAD cho Chế độ đầu tư quốc tế. Trái ngược hoàn toàn với các hiệp ước đã được kí kết vào đầu thiên niên kỉ, tất cả các hiệp ước được kí kết trong năm 2017 đều có ít nhất 6 “tính năng cải cách” và một số điều khoản được coi là đổi mới trong HA trước năm 2010. Điểm nổi bật của việc thực hiện Hiệp ước hiện đại bao gồm định hướng phát triển bền vững, duy trì được không gian pháp lý và cải thiện các ISDS.

Các quốc gia đang từng bước hiện đại hóa các Hiệp ước thế hệ cũ (giai đoạn 2 của cải cách IIA). Một số quốc gia, ví dụ, đưa ra các cách giải thích hoặc thay thế các thỏa thuận thế hệ cũ. Các quốc gia này cũng tham gia vào các cuộc thảo luận cải cách đa phưong, liên quan đến ISDS. Đã có hon 3.000 Hiệp ước thế hệ đầu tiên ngày nay (chiếm khoảng 90% các IIA) mang đến nhiều cơ hội hơn nữa cho quá trình cải cách.

Sau khi cải cách các Hiệp ước cũ và mới, bước tiếp theo của tiến trình cải cách (giai đoạn 3) là đảm bảo sự gắn kết với các chính sách đầu tư quốc gia và các cơ quan khác của luật pháp quốc tế. Bởi vì khung pháp lý quốc gia cho hoạt động đầu tư tại nhiều nước đã bao gồm các vấn đề về cơ sở, biện pháp và phòng vệ giống như IIA, quá trình cải cách hiệu quả có thể đòi hỏi các bước song hành trong luật pháp quốc gia. Đổi lại, khung chính sách quốc gia có thể tạo cảm hứng cho cải cách IIA (ví dụ, liên quan đến các thuận lợi trong đầu tư, nghĩa vụ của nhà đầu tư và giải quyết tranh chấp). Các quốc gia có thể cải thiện chức năng hiệp đồng của hai quốc gia bằng cách tăng cường hợp tác giữa các nhà hoạch định chính sách đầu tư quốc gia và quốc tế và làm rõ sự tương tác giữa hai chế độ (ví dụ, thiết lập ưu tiên chế độ này so với chế độ kia).

Cũng có nhiều hướng cải thiện tích cực giữa HA và các cơ quan khác về luật pháp và chính sách quốc tế. Các bước cải cách cụ thể có thể giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc hạn chế không gian pháp lý và giải quyết tranh chấp và có thể giảm sự phức tạp về các thủ tục hành chính (đối với các khu vực và nhà đầu tư). Ví dụ, các nhà đàm phán IIA có thể đưa ra các trường hợp ngoại lệ cho các lĩnh vực hoạch định chính sách khác, sử dụng tham chiếu chéo và hướng dẫn giải thích các điều khoản của Hiệp ước được các tòa án công nhận.

Tạo sự liên kết không nhất thiết phải mang hàm ý thống nhất pháp lý - sự không nhất quán và phân kì đều có thể xảy ra. Do vậy, việc định hình sự tựơng tác đòi hỏi sự hiểu biết sâu, rộng về sự khác biệt trong cấu trúc và bối cảnh giữa các chế độ khác nhau. Trong trường họp thiếu khuôn khổ pháp lý đa phương cho đầu tư, cải cách chế độ toàn diện sẽ giúp giảm thiểu rủi ro. Là đầu mối của Liên Hợp quốc về đầu tư quốc tế, UNCTAD, thông qua ba trụ cột chính then chốt là: (i) nghiên cứu và phân tích chính sách, (ii) hỗ ừợ kĩ thuật và (iii) xây dựng sự đồng thuận liên chính phủ. Tháng 10/2018, Diễn đàn Cấp cao IIA do UNCTAD tổ chức đã đánh dấu cột mốc quan trọng liên quan đến vấn đề này.

+ Thị trường tài chính ngày càng thúc đẩy đầu tư trong phát triển bền vững

Các chính sách và công cụ thị trường vốn được thiết kế nhằm thúc đẩy đầu tư trong phát triển bền vững và hỗ trợ thành tựu của các Mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals - SDG) là tính năng ngày càng quan trọng trong bối cảnh đầu tư. Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong chuỗi đầu tư cuối cùng thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (Multinational Enterprises - MNE) và các hoạt động quốc tế của họ. Những đổi mới trên thị trường liên quan đến phát triển bền vững tiếp tục thu hút sự quan tâm từ các nhà đầu tư theo danh mục, hồ sơ theo dõi tích cực về các sản phẩm mang tính bền vững là quan điểm của các nhà quản lý tài sản vì họ cho rằng quản trị môi trường và xã hội là nguyên do cho các hoạt động đầu tư dài hạn hiệu quả. Khi các xu hướng đầu tư bền vững ngày càng được thể hiện rõ nét, mở rộng tạo nên sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong mối quan hệ giữa các MNE niêm yết với các cổ đông của chúng và lúc này các chính sách cũng như thực tiễn hoạt động của MNE sẽ có liên kết chặt chẽ với phát triển bền vững.

Trong một cuộc đánh giá công cụ liên quan đến trao đổi chứng khoán trên khắp thế giới chủ yếu tập trung vào các yếu tố ESG1 đã chỉ ra có tới 54 trao đổi với ít nhất một cơ chế thúc đẩy hợp tác thực tiễn ESG. Có khoảng 40 sàn giao dịch chứng khoán cung cấp các chỉ số bền vững và 39 sàn giao dịch cung cấp các khóa đào tạo Hên quan đến ESG. Vào quý 1/2018, có 38 sàn giao dịch chứng khoán trên thế giới cung cấp các bản hướng dẫn tự nguyện về công bố thông tin ESG (tăng 6 sàn so với cuối quý 1/2017) và 14 sàn giao dịch đã tiết lộ ESG là quy tắc bắt buộc (tăng 2 sàn so với cùng kì năm ngoái). Theo sáng kiến của sàn chứng khoán bền vững Liên hợp quốc (SSE) thì đến nay đã có 72 sàn (quý 1/2017 có 63 sàn); các sàn với hơn 45.000 công ti niêm yết với vốn hóa thị trường lên đến 80 nghìn tỉ USD.

+ Chính sách đầu tư gắn với chỉnh sách công nghiệp

Khi chính sách công nghiệp dần phát triển và trở thành xu hướng chính trong chiến lược phát triển thì một thách thức cũng xuất hiện cho các nhà hoạch định chính sách trong giai đoạn hiện nay: các chính sách công nghiệp mới cần được gia tăng tính hiệu quả sử dụng trong các công cụ chính sách đầu tư và các chính sách đầu tư cần phải hiện đại hóa theo chiến lược phát triển công nghiệp.

Các chính sách công nghiệp hiện đại, có thể là sự đa dạng, bắt kịp xu hướng hoặc hướng đến cách mạng công nghiệp mới (New Industrial Revolution - NIR), tuân thủ một số tiêu chí thiết kế, bao gồm: mở cửa, bền vững, độ sẵn sàng NIR và toàn diện. Các lựa chọn chính sách đầu tư cần được hướng dẫn bởi các tiêu chí đã định và sự gắn kết trong từng chính sách, có đầy đủ tính linh hoạt và hiệu quả.

Thực tiễn chính sách cho thấy các chính sách công nghiệp hình thành và bắt kịp dựa trên NIR để nhấn mạnh các công cụ chính sách đầu tư và tập trung vào các lĩnh vực khác nhau, các hoạt động kinh tế, các cơ chế để tối đa hóa những đóng góp của đầu tư vào sự phát triển tổng thể của ngành công nghiệp. Các công cụ chính sách đầu tư liên quan đến mô hình chính sách công nghiệp và các giai đoạn phát triển.

Mỗi quốc gia cần đảm bảo rằng các công cụ chính sách đầu tư của mình luôn được cập nhật bao gồm định hướng lại các ưu đãi trong đầu tư, hiện đại hóa đặc khu kinh tế (SEZs), khuyến khích thúc đẩy đầu tư và xây dựng các cơ chế giám sát đầu tư và giám sát đầu tư nước ngoài thông minh. NIR, đặc biệt, cần phải xem lại các chiến lược về chính sách đầu tư cho phát triển công nghiệp.

Các chính sách công nghiệp hiện đại đóng góp vào chiến lược phát triển bền vững. Các nhà hoạch định chiến lược cần tăng cường sự gắn kết với các chính sách đầu tư quốc gia và các lĩnh vực chính sách khác, bao gồm chính sách xã hội và môi trường. Các chính sách này càn tuân thủ toàn bộ cách thức tiếp cận của chính phủ để có thể tạo ra sức mạnh tổng họp. Các chính sách cần đạt được sự cân bằng giữa vai trò của thị trường và Nhà nước để tránh sự tập trung quá mức không cần thiết. Cuối cùng, các chính sách cần tiếp cận hiệu quả để mở ra quan hệ họp tác sản xuất quốc tế và tránh bị phụ thuộc vào các quốc gia láng giềng.

Bảng 3.1: Khuôn khổ chính sách đầu tư cho phát triển bền vững (IPFSD) của UNCTAD và sự tương tác của các chính sách đầu tư và công nghiệp.

2. Xu hướng mới trong đầu tư quốc tế

Đối với các quốc gia trên toàn thế giới, trong thời gian qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển nhanh chóng, trở thành một bộ phận cấu thành năng động và có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một thành tố quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu và được xem là nguồn lực thiết yếu cho phát triển kinh tế - xã hội. Thu hút FDI từ các tập đoàn đang là xu thế của các quốc gia hiện nay. Xu hướng hiện nay trên thế giới cho thấy, đầu tư trên thế giới chủ yếu là vốn từ các công ti đa quốc gia. Các công ti đa quốc gia thường được xem như là tổ chức phù hợp tạo điều kiện phát triển hoạt động vay và cho vay quốc tế. Những công ti mẹ thường cung cấp vốn cho các công ti con ở nước ngoài, với kì vọng là sẽ thu lại được những khoản lợi nhuận chấp nhận được. Các công ti này có công nghệ tiên tiến và tiềm lực tài chính mạnh, ảnh hường lớn đến nền kinh tế thế giới và chi phối các quan hệ kinh tế quốc tế, làm lợi rất nhiều cho nền kinh tế và các doanh nghiệp của nước sở tại. Do đó, định hướng thu hút FDI từ các công ti này là xu thế tất yếu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển để nâng cao vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới.

2.1 Xu hướng Toàn cầu

Năm 2016, dòng vốn FDI toàn cầu lên tới 1,75 nghìn tỉ USD, trong đó khu vực châu Á - Thái Bình Dưomg duy trì vị trí dẫn đầu về tiếp nhận FDI. Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dưcmg, các quốc gia ASEAN chiếm 44% tổng số dự án FDI được ghi nhận năm 2016 (so với 28% của năm 2003), trong đó riêng các “con hổ châu Á” đã chiếm 28% tổng số dự án được ghi nhận của khu vực (so với 22% của năm 2003). Tính theo tỉ lệ dự án FDI trong phạm vi ASEAN, các “con hổ châu Á” có tỉ trọng giảm từ 78% năm 2003 xuống còn 63% năm 2016 (“Con rồng châu Á” bao gồm Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), trong khi “con hổ châu Á” gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam).

Bảng 3.2 dưới đây trình bày khái quát về 25 nhóm ngành hàng đầu, qua đó cho thấy sự chuyển dịch quốc gia ASEAN tiếp nhận. Các quốc gia ASEAN chiếm bình quân 10% tổng số dự án, trong đó các “con hổ châu Á” chiếm khoảng 6,4% tổng số dự án trên toàn cầu trong 25 lĩnh vực hàng đầu.

Cần lưu ý rằng, trong số 10 ngành có sự di biến động FDI lớn nhất thế giới, có tới một nửa là các ngành công nghiệp dựa trên dịch vụ. Trong số các dự án đầu tư mới tại khu vực ASEAN, các “con hổ châu Á” có thể nói có tỉ lệ thu hút đầu tư phi dịch vụ khá cao như dệt may, máy móc/thiết bị công nghiệp, ô tô, xe máy, điện tử, sản phẩm tiêu dùng và chế biến thực phẩm cũng như đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ như vật liệu kim loại, nhựa, hóa chất, bao bì. Đối với những ngành có mức độ di biến động FDI cao nhất, tốc độ tăng trưởng gộp hàng năm (Compounded Annual Growth Rate - CAGR) cho hai giai đoạn thể hiện trên trục X và Y cho thấy mức tăng trưởng cao khá nhất quán ở hầu hết các ngành.

Lĩnh vực năng lượng thay thế và tái tạo cũng đang có sự tăng trưởng nhanh trong vòng 10 năm qua. Điện tử tiêu dùng, dược phẩm, thực phẩm và thuốc lá là những ngành tăng trưởng chậm nhất trong nhóm khu vực, nhưng vẫn đang có CAGR ấn tượng.

Bảng 3.2: 25 ngành lớn nhất tính theo số lượng dự án FDI trên thế giới, theo ghi nhận của các thị trường FDI từ 2011 đến 2016

Lĩnh vực

 

Thế giới 

Châu Á

ASEAN

Phần mềm & dịch vụ CNTT

12,8%

7,9%

403%

Dịch vụ doanh nghiệp

103%

10,0%

49,6%

Công nghiệp dệt

8,6%

6,0%

65,2%

Dịch vụ tài chính

7,7%

12,4%

54,9%

Thiết bị dụng cụ, máy móc công nghiệp

53%

8,6%

69,4%

Truyền thông

5,3%

7,8%

45,2%

Sản phẩm tiêu dùng

4,9%

7,8%

65,4%

Thực phẩm 

4,7%

9,2%

75,4%

Vận tải

4,2%

10,4%

66,0%

Linh kiện, phụ tùng ô tô

3,5%

6,8%

913%

Hóa chất

3,2%

11,7%

643%

Linh kiện điện tử

2,7%

10,0%

733%

Bất động sản

2,6%

15,4%

70,8%

Kim loại

2,6%

10,9%

79,0%

Nhựa

1,9%

8,4%

75,3%

Năng lượng thay thế/tái tạo

1,8%

6,8%

75,9%

OEM công nghiệp ô tô

1,6%

11,2%

82,0%

Than đá, dầu và khí tự nhiên

1,5%

12,1%

58,8%

Dược phẩm

1,5%

6,8%

55,3%

Khách sạn & Du lịch

1,4%

9,2%

653%

Điện tử  

1,1%

11,8%

722%

Dịch vụ y tế

1,0%

6,9%

56,7%

Máy móc, thiết bi doanh nghiệp

1,0%

9,9%

66,7%

Hàng không

1,0%

9,9%

44,3%

Giấy, in và bao bì

0,7%

10,5%

76,1%

 Nguồn: FDI markets (2017)

 

2.2 Đầu tư từ Hoa Kỳ và Tây Âu

Việt Nam dù đang thu hút hiệu quả đầu tư từ Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng điều quan trọng đối với Việt Nam là phải thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư từ châu Âu và Hoa Kỳ để đa dạng hóa nguồn vốn FDI và tận dụng được đầu tư từ bán cầu Bắc cho các hoạt động mang lại giá trị gia tăng cao hơn và tăng cường giao công nghệ cho khối kinh tế tư nhân trong nước. Mặc dù các bên liên quan đều cho rằng Việt Nam chưa đạt hiệu quả tốt trong thu hút FDI từ châu Âu và Hoa Kỳ, nhưng cơ sở dữ liệu của FDI markets không cho thấy như vậy. Trái lại, khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực, ngoại trừ Trung Quốc, Việt Nam thu hút hiệu quả FDI từ châu Âu (khi chỉ có Malaysia có kết quả tốt hơn, còn Thái Lan, Philippines, Indonesia đều đứng sau Việt Nam về số lượng dự án đăng kí trong 14 năm qua). Tương tự, đối với FDI từ Hoa Kỳ, trong nhóm các quốc gia tương đương, Philippines thu hút tỉ trọng lớn hơn, sau đó đến Malaysia, nhưng Việt Nam vẫn có kết quả tốt hơn Thái Lan và Indonesia. Trung Quốc là điểm đến quan trọng thứ hai trên toàn cầu của cả các nhà đầu tư châu Âu và Hoa Kỳ, là nước thu hút tỉ lệ lớn nhất các dự án FDI trong khu vực.

Theo dữ liệu của Bộ Thương mại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, 26 FDI của Hoa Kỳ trong nửa đầu năm 2017 đạt mức 1,78 tỉ USD, chỉ tương đương với một nửa lượng vốn đầu tư cùng kì năm 2016, trong khi Hồng Kông (Trung Quốc) chiếm 52,57 tỉ USD (72,8% dòng vốn FDI của Q1/Q2 năm 2017); Đài Loan (Trung Quốc) chiếm 3,36 tỉ USD (4,5%); Singapore 2,8 tỉ USD; Nhật Bản 1,84 tỉ USD; Hàn Quốc 1,75 tỉ USD; Hà Lan 1,36 tỉ USD; Đức 1,24 tỉ USD; Anh 890 triệu USD.

 

2.3 Chiến lược đầu tư ra nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation - TNC)

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay chủ yếu được thực hiện bởi các TNC. Trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, cộng với ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ năm 2008, chiến lược của TNC cũng hứa hẹn những thay đổi nhất định.

Thứ nhẩt, về sự lựa chọn địa điểm đầu tư: những nơi ổn định, an toàn đồng vốn và phát triển năng động sẽ được ưu tiên. Dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của thế giới nói chung và của INC nói riêng hiện nay đang là dòng vốn có lựa chọn kĩ càng về địa điểm đầu tư. Các TNC ở những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới cũng đang phải đối mặt với khó khăn chồng chất của nền kinh tế ở những nước này. Vì vậy, những TNC ở đây rất thận trọng chọn lựa địa điểm đầu tư. Nhiều TNC còn đang trong quá trình tái cơ cấu, sắp xếp lại hoạt động kinh doanh.

Vào nửa đầu năm 2009, khi cuộc khủng hoảng kinh tế đang nghiêm trọng nhất, nghiên cứu của KPMG - một công ti tư vấn hàng đầu thế giới - về các yếu tố quan trọng nhất trong việc chọn địa điểm đầu tư trong thời kì khủng hoảng cho thấy nhân tố “khách hàng mới” là yếu tố quan trọng nhất trong 12 nhân tố được đưa ra để chọn địa điểm đầu tư, tiếp đến là sự “ổn định chính trị”, “luật pháp công bình”, “cơ sở hạ tầng”... Đáng chú ý, nhân tố “chi phí lao động thấp” đứng ở vị trí cuối cùng trong các nhân tố ưu tiên lựa chọn đầu tư.

Thứ hai, TNC đang tích cực tận dụng những ưu đãi trong việc thu hút đâu tư nước ngoài ở các nước đang phát triên. Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có nhiều ưu đãi đó. Đặc biệt, những nước có ưu đãi thuế, đánh thuế vào lợi nhuận thấp và tự do chuyển lợi nhuận càng thu hút được nhiều TNC.

Khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á sẽ là noi được chú ý bởi sự hồi phục nhanh sau khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Đây cũng là khu vực hấp dẫn với các thị trường mới nổi và những cơ hội đàu tư mới được tạo nên do làn sóng tự do hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ ở đây. Xét về tổng thể, đây là các nước có thu nhập trung bình thấp nên đầu tư sang các nước này TNC sẽ có cơ hội tiếp cận với thị trường rộng lớn, sức mua hàng hóa rất tiềm năng, nguồn lao động rẻ. Tuy nhiên, hiện nay những lợi thế đó không phải được TNC ưu tiên nhất nên đàu tư của TNC vào Nam và Đông Nam Á không sôi động lắm.

Thứ ba, xu hướng chuyển dịch sang các nước đang phát triển có tăng trưởng kinh tế cao. TNC nào cũng chú trọng vào những thị trường có nền tảng hạ tầng và trình độ lao động tốt. Các TNC ngày càng quan tâm đến sức mua của thị trường ở nước nhận đầu tư. Nếu tính cả 3 yếu tố trên, rõ ràng các nước phát triển có lợi thế về thu hút đầu tư của TNC lớn. Trên thực tế, TNCs đầu tư nhiều vào các nền kinh tế đã phát triển. Đây là những nơi có cơ sở hạ tàng tót, trình độ lao động cao và sức mua hàng hóa cũng khá cao do thu nhập của người dân cao mặc dù quy mô dân số vừa phải. Tuy nhiên, hiện nay xu hướng TNCs đầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển tăng lên. Nhiều nền kinh tế đang phát triển có sự cải thiện mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, về trình độ người lao động và có quy mô dân số lớn, đã gây được sự chú ý của các TNC. Trung Quốc và Ấn Độ là hai trường hợp điển hình cho nhận định này, Việt Nam cũng có lợi thế thu hút các TNC lớn do quy mô dân số và sức mua của nền kinh tế có tiềm năng cao nhưng hiện vẫn còn nút thắt về hạ tầng và trình độ người lao động, tình trạng vi phạm luật sở hữu trí tuệ... Vì thế, chưa có nhiều TNC lớn đầu tư vào Việt Nam thời gian qua.

Thứ tư, trong điều kiện vừa rủi ro cao vừa cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, TNC cũng muốn đa dạng hóa đầu tư đế tránh mạo hiểm và vượt qua các hàng rào bảo hộ kĩ thuật đang ngày càng chặt chẽ hơn. Đã có những thay đổi trong quan hệ giữa công ti mẹ và các chi nhánh của chúng. TNC thực hiện chính sách phi tập trung hóa, tức là các vấn đề chiến lược không chỉ do các công ti mẹ quyết định mà được giao cho các chi nhánh nhiều hơn. Do đó, các chi nhánh chủ động hơn ừong việc tìm kiếm thị trường và đầu tư. Đặc biệt, các quyết định được đưa ra nhanh hơn. Điều này cũng phần nào lý giải tại sao các chi nhánh đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn các công ti mẹ của chúng thời gian qua.

Ngay trong thị trường châu Á, các TNC cũng có điều chỉnh nhất định. TNC đã đầu tư nhiều vào các thị trường lớn như Trung Quốc, Singapore, Thái Lan... hiện nay cũng muốn phân tán các đầu tư của mình, không muốn tập trung quá mức vào các thị trường này. Như vậy, nơi mà họ tìm đến rất có thể sẽ là Việt Nam và một vài nước đang nổi khác. Ngoài việc phân tán rủi ro đầu tư ở những nước TNC đã đầu tư nhiều, TNC còn muốn khám phá “miền đất mới” để tìm kiếm lợi nhuận cho mình.

Sự cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường toàn cầu và sự cải thiện năng lực sản xuất từ các nước đang phát triển với chi phí sản xuất rẻ đã khiến các TNC điều chỉnh quá trình sản xuất của họ. Thay vì nhất thể hóa theo chiều dọc (bao gồm nhiều giai đoạn trong chuỗi cung ứng), các TNC đã chia quá trình sản xuất của họ thành nhiều công đoạn và chỉ tập trung vào những công đoạn mang lại lợi thế cạnh tranh cốt lõi cho TNC như marketing, truyền thông, xây dựng thương hiệu. Những công đoạn kém quan trọng hơn được thuê ngoài trên toàn cầu. Các TNC đã thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế và khu vực và ngày càng trở thành người dẫn dắt chủ chốt trong quá trình toàn cầu hóa sản xuất.

Thứ năm, quốc tế hóa xây dựng trung tâm nghiên cứu triển khai (R&D): thành lập R&D ở nước ngoài để khuyến khích địa phưomg hỏa. Các TNC đóng vai trò rất quan trọng đối với nghiên cứu triển khai toàn cầu, không chỉ ở các nước chủ của công ti mẹ mà còn ở các nước đặt chi nhánh của các TNC. Trong chiến lược phát triển, TNCs luôn đặt vấn đề công nghệ lên hàng đầu chính vì công nghệ là yếu tố sống còn, quyết định khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường, hoạt động R&D luôn là hướng ưu tiên trong chính sách của TNC. Trước đây, TNC thường đầu tư lớn cho các phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu để cho ra đời các phát minh, sáng chế và nhiệm vụ của công ti chính là thương mại hóa các phát minh, sáng chế đó. Thực chất là chuyển giao công nghệ trong nội bộ TNC, chủ yếu từ công ti mẹ sang các chi nhánh. Ngày nay, hoạt động R&D đang được quốc tế hóa và nó đang phát triển nhanh chóng. Công nghệ mới ra đời không chỉ từ phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu mà còn từ các trường đại học và tại các xí nghiệp, cơ sở sản xuất của TNC ở mọi nơi. Chẳng hạn, vào những năm giữa của thập kỉ đầu thế kỉ XXI, riêng tập đoàn Motorola đã thiết lập 15 trung tâm R&D, còn Microsoft cũng đã thiết lập 5 trung tâm R&D tại Trung Quốc.

Như vậy, đã có sự chuyển hướng trong chính sách R&D của TNC. Trước kia, các TNC đều đưa ra các quyết định chiến lược tại trụ sở công ti mẹ, thì hiện nay cách tiến hành mang tính tập trung hóa cao như vậy không còn nữa. Lý do: 1) Tiềm năng tri thức không chỉ bó hẹp trong một công ti hay một khu vực nào đó, vì vậy để tiếp cận với nguồn tiềm năng này, các TNC ngày càng phải thiết lập thêm nhiều cơ sở R&D ở bên ngoài; 2) Cuộc cạnh tranh toàn cầu hiện nay đòi hỏi phải rút ngắn thời gian triển khai công nghệ từ phòng thí nghiệm tới cơ sở sản xuất. Vì vậy, TNC phải xây dựng các hệ thống R&D có khả năng khai thác các nguồn tri thức mới ngay tại thị trường nước ngoài. Vì những lý do này, các cơ sở R&D phát triển mạnh hơn ở khắp thế giới, đặc biệt các nước đang phát triển trở thành những nơi xây dựng các trung tâm R&D của các tập đoàn lớn trên thế giới.

Công việc R&D của TNC có sự khác biệt với các nhà đầu tư bình thường, nó là một dự án mà không đơn thuần là một bộ phận hay phòng ban thường thấy ở các công ti nhỏ, và hình thành một mạng lưới R&D riêng của TNC. Các TNC chiếm tỉ lệ cao trong chi tiêu cho R&D toàn cầu. Quả thực, chi tiêu cho R&D của nhiều công ti còn lớn hon của một quốc gia. Hon 80% trong 700 hãng chi tiêu cho R&D lớn nhất thế giới đến từ 5 nước, đứng đầu là Mỹ, sau đó là Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp. Như vậy, chi tiêu mạnh cho R&D chỉ tập trung vào TNC của một số nước có nền khoa học - công nghệ tiên tiến.

Đầu tư cho R&D cũng tập trung chủ yếu vào các ngành tưong đối mới như công nghệ thông tin phần cứng, ô tô, dược phẩm và công nghệ sinh học. về mặt địa lý, các TNC đang mở rộng R&D sang những noi đang phát triển.

Thứ sáu, về hình thức đầu tư, kinh doanh: xu hướng M&A phát triển mạnh và đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ sẽ ngày càng nhiều hơn. Hiện có 2 phương thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, đó là: đầu tư xây dựng mới (GF) và đầu tư thông qua mua lại và sáp nhập (M&A). Nếu như trước đây M&A chỉ thấy ở các quốc gia phát triển thì hiện nay hình thức này đã có mặt ở nhiều quốc gia đang phát triển, đặc biệt ở khu vực châu Á. Loại hình đầu tư này ngày càng có xu hướng phát triển mạnh. Ngay cả Trung Quốc cũng tích cực tham gia vào xu hướng này nhằm tạo đột phá trong phát triển và chiếm giữ vị trí thống trị về công nghệ, vốn trên thế giới. Nhiều doanh nghiệp của Trung Quốc đã mua lại các doanh nghiệp lớn của nước phát triển để thâu tóm công nghệ và chiếm lĩnh một số lĩnh vực. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang trì trệ hiện nay, mặc dù dòng FDI toàn cầu có xu hướng tăng nhưng chủ yếu rơi vào các vụ M&A, hình thức GF còn hạn chế. Như vậy, năng lực sản xuất mới do FDI tạo ra trên phạm vi toàn cầu không nhiều.

Những thay đổi trong cơ cấu ngành cũng rõ nét. Neu như trong thập kỉ 60 của thế kỉ XX, TNC chủ yếu đầu tư vào ngành nguyên liệu, đặc biệt là khai thác dầu, thì thập kỉ 70 là vào ngành công nghiệp chế tạo, thập kỉ 90 đến nay lại tập trung vào ngành dịch vụ (thông tin, thương mại, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm...). Trong thời gian tới, những vấn đề phát triển bền vững, môi trường, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu... chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư.

 Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích từ các nguồn trên internet)