Ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội. Ngày 23/7/1997 ASEAN kết nạp thêm Lào và Myanmar. Ngày 30/4/1999, Campuchia trở thành thành viên thứ 10. Tính tới hết năm 2019, ASEAN có 10 nước thành viên, với dân số khoảng 622 triệu dân và GDP đạt khoảng 3.200 tỉ USD.

Trong hơn 50 năm tồn tại và phát triển, ASEAN dần phát triển thành một tổ chức quy mô với nội dung họp tác ngày càng sâu rộng và chặt chẽ. Ngày nay, các hoạt động hợp tác của ASEAN đã bao trùm hầu hết các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội các quốc gia Đông Nam Á. ASEAN đã trở thành một tổ chức khu vực có ảnh hưởng nhất ở Đông Nam Á và có vai trò quan trọng ở khu vực Đông Á. Với việc ASEAN kí kết và phê chuẩn Hiến chương ASEAN, hợp tác ASEAN đã có nền tảng pháp lý và khuôn khổ thể chế để có bước phát triển mới, hướng tới việc xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.

Cộng đồng Kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community - AEC) là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra trong Tầm nhìn ASEAN 2020. Hai trụ cột còn lại là: Cộng đồng An ninh ASEAN và Cộng đồng Văn hóa - xã hội ASEAN.

Việc hiện thực hóa Cộng đồng Kinh tế ASEAN đã được triển khai trong cả quá trình dài trước đây (thông qua việc thực hiện các cam kết tại các hiệp định cụ thể về thương mại đã kí kết giữa các nước ASEAN) và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tiếp theo (tiếp tục thực hiện theo lộ trình các hiệp định, thỏa thuận đã có và các vấn đề mới, nếu có).

 

1. Lịch sử hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)

Tại Tuyên bố Tầm nhìn ASEAN 2020, tháng 12/1997, ASEAN được định hướng phát triển ASEAN thành một Cộng đồng ASEAN. Ý tưởng đó được tái khẳng định tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 9 (tháng 10/2003). Theo đó, ASEAN nhất trí hướng đến mục tiêu hình thành một cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với 3 trụ cột chính là hợp tác chính trị - an ninh, họp tác kinh tế (Cộng đồng Kinh tế ASEAN - AEC) và hợp tác văn hóa - xã hội.

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 12 (tháng 01/2007) thời hạn hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN được rút từ năm 2020 xuống năm 2015.

Cộng đồng Kinh tế ASEAN đã được thành lập vào ngày 22/11/2015, có hiệu lực từ ngày 31/12/2015.

 

1.1 Mục tiêu của AEC

+ Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hóa; dịch vụ; đầu tư; vốn và lao động có tay nghề.

+ Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử.

+ Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN.

+ Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu (WTO).

 

1.2 Bản chất của Cộng đồng Kinh tế ASEAN

+ Mặc dù được gọi với cái tên “Cộng đồng kinh tế” nhưng Cộng đồng Kinh tế ASEAN thực chất chưa thể được coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng Kinh tế châu Âu bởi Cộng đồng Kinh tế ASEAN không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và những cam kết ràng buộc với lộ trình thực hiện cụ thể.

+ Cộng đồng Kinh tế ASEAN thực chất là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện thực hóa dần dần 04 mục tiêu kể trên (trong đó chỉ mục tiêu 01 là được thực hiện tương đối toàn diện và đầy đủ thông qua các hiệp định và thỏa thuận ràng buộc, các mục tiêu còn lại mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng lộ trình và thực hiện một số sáng kiến khu vực).

+ Cộng đồng Kinh tế ASEAN là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực mà không phải là một thỏa thuận hay hiệp định với các cam kết ràng buộc thực chất. Tham gia vào các mục tiêu của Cộng đồng Kinh tế ASEAN là hàng loạt các hiệp định, thỏa thuận, tuyên bố... giữa các nước ASEAN có liên quan tới các mục tiêu này. Những văn bản này có thể bao gồm những cam kết có tính ràng buộc thực thi, cũng có những văn bản mang tính tuyên bố, mục tiêu hướng tới không bắt buộc của các nước ASEAN.

 

1.3 Việt Nam tham gia vào Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)

Như đã đề cập ở trên, để hiện thực hóa Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015, các nước trong ASEAN đã triển khai trong cả quá trình dài trước đây thông qua việc thực hiện các cam kết tại các hiệp định cụ thể về thương mại đã kí kết giữa các nước ASEAN như: Hiệp định về Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) kí kết tháng 01/1992, để thành lập Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); tiếp đó là Hiệp định bao quát, toàn diện và phù hợp hơn với tiến trình hội nhập của ASEAN: Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ASEAN Trade in Goods Agreement - ATIGA) kí kết tháng 02/2009, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (ASEAN Framework Agreement on Services - AFAS) kí kết tháng 12/1995, Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ASEAN Comprehensive Investment Agreement - ACIA) kí kết tháng 02/2009... và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tiếp theo, theo lộ trình các hiệp định, thỏa thuận đã có và các vấn đề mới, nếu có.

Trở thành viên của ASEAN năm 1995, Việt Nam tích cực và chủ động tham gia vào tiến trình hội nhập của ASEAN nói chung và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) hiện tại nói riêng.

*   Việt Nam tham gia vào CEPT từ ngày 01/01/1996, sau thời hạn 10 năm, tới năm 2006 Việt Nam đã hoàn thành lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu hàng hóa xuống 0-5%. Thuế suất CEPT bình quân năm 2006 tại Việt Nam là 2,48%.

*   Sau đó Việt Nam tiếp tục thực hiện ATIGA (có hiệu lực từ ngày 17/5/2010, có tiền thân là CEPT/AFTA kí năm 1992), đây là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan. Một số nội dung Việt Nam đã thực hiện:

+ Về cắt giảm thuế quan:

Thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan theo ATIGA giai đoạn 2015 - 2018, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 165/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 về việc ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN giai đoạn 2015 - 2018. Theo thông tin từ Bộ Tài chính, thực hiện cam kết ATIGA, tính đến ngày 01/01/2014, Việt Nam đã cắt giảm về 0% đối với 6.897 dòng thuế (chiếm 72% tổng Biểu thuế nhập khẩu). Đến ngày 01/01/2015, Việt Nam cắt giảm về 0% thêm 1.706 dòng thuế nữa. Số còn lại gồm 669 dòng thuế (chiếm 7% Biểu thuế), chủ yếu là những sản phẩm nhạy cảm trong thương mại giữa Việt Nam và ASEAN, đã giảm xuống 0% vào năm 2018, bao gồm: ô tô, xe máy, phụ tùng linh kiện ô tô, xe máy, dầu thực vật, hoa quả nhiệt đới, đồ điện dân dụng như tủ lạnh, máy điều hòa, sữa và các sản phẩm sữa... Các sản phẩm không phải xóa bỏ thuế nhập khẩu (duy trì thuế suất MFN) gồm Thuốc lá điếu, lá thuốc lá, các mặt hàng an ninh quốc phòng như thuốc nổ, súng đạn, pháo hoa, rác thải y tế, lốp cũ...

Thực hiện cam kết giảm thuế theo ATTGA giai đoạn 2018 - 2022, Chính phủ ban hành Nghị định số 156/2017/NĐ-CP về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN giai đoạn 2018-2022.

Như vậy, hiện tại Việt Nam và các nước trong ASEAN hay Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) về cơ bản đã thực hiện xong lộ trình cắt giảm thuế theo ATIGA.

+ Về quy tắc xuất xứ, thủ tục chứng nhận xuất xứ:

Hàng hóa chỉ được hưởng ưu đãi thuế quan theo ATIGA nếu có xuất xứ từ khu vực ASEAN.

Để được hưởng ưu đãi thuế quan, theo ATIGA, nhà xuất khẩu phải xin Chứng nhận xuất xứ form D tại một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu. Tuy nhiên, hiện tại các nước ASEAN đang thực hiện việc áp dụng cơ chế Tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa, cho phép nhà xuất khẩu được tự chứng nhận xuất xứ mà không cần phải thông qua một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu. Đã có hai dự án thí điểm về Tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa đang được các nước ASEAN thực hiện, theo đó, các nhà xuất khẩu đủ điều kiện sẽ được tự chứng nhận xuất xứ trên hóa đơn thương mại cho hàng xuất khẩu. Dự án thí điểm 1: Kí ngày 30/8/2010 bởi 3 nước Brunei, Malaysia và Singapore, bắt đầu thực hiện từ ngày 01/11/2010, Thái Lan tham gia vào tháng 10/2011. Dự án thí điểm 2: Kí ngày 29/8/2012 bởi 3 nước Lào, Indonesia và Philippines, bắt đầu thực hiện từ ngày 01/01/2014, Việt Nam tham gia vào tháng 9/2014.

Nhằm hướng dẫn doanh nghiệp Việt Nam về việc áp dụng các quy tắc xuất xứ và thủ tục chứng nhận xuất xứ trong ATIGA, Bộ Công Thương đã ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện cho doanh nghiệp. Các thông tư về quy tắc xuất xứ trong ATIGA gồm: Thông tư số 28/2015/TT-BCT ngày 20/8/2015 của Bộ Công Thương quy định việc thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN; Thông tư số 22/2016/TT-BCT ngày 03/10/2016 của Bộ Công Thương thực hiện Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN; Thông tư số 27/2017/TT-BCT ngày 06/12/2017 của Bộ Công Thương sửa đổi, bổ sung Thông tư số 28/2015/TT-BTC ngày 20/8/2015 của Bộ Công Thương quy định việc thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN, Thông tư số 10/2019/TT-BCT sửa đổi, bổ sung Thông tư số 22/2016/TT-BCT thực hiện Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN.

* Để thực hiện AFAS:

Ngày 15/12/1995: Các nước ASEAN kí Hiệp định AFAS. Hiệp định AFAS với các nội dung tương tự Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ của WT0 làm tiền đề cho các vòng đàm phán từng bước tự do hóa thương mại dịch vụ giữa các nước ASEAN.

Việt Nam cùng các nước ASEAN đã hoàn tất Gói cam kết thứ 9 và đang tích cực xây dựng Gói cam kết thứ 10 trong khuôn khổ AFAS. Mặc dù nội dung Gói 10 đặt yêu cầu cam kết mở cửa khá cao, Việt Nam vẫn thể hiện sự nỗ lực, tích cực giải quyết các vướng mắc để sớm cùng các nước thành viên ASEAN hoàn thành nội dung cam kết trong Gói cam kết thứ 10.

Hướng tới tự do hóa dịch vụ, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi một số luật liên quan như Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp và ban hành nhiều nghị định, văn bản hướng dẫn các luật này. Sửa đổi và ban hành mới các chính sách để thực hiện các cam kết trong từng ngành cụ thể, điển hình là trong các ngành dịch vụ phân phối, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, viễn thông để phù họp với các cam kết trong Hiệp định AFAS.

* Để thực hiện ACIA:

ACIA có hiệu lực từ 29/3/2012 thay thế cho Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN (IGA) 1987 và Hiệp định Đầu tư ASEAN (AIA) 1998. Kể từ khi Hiệp định có hiệu lực đến nay, Việt Nam và các nước ASEAN tập trung cắt giảm và loại bỏ dần các biện pháp trong Danh mục bảo lưu của mình, với mục tiêu xây dựng một môi trường đầu tư tự do và mở cửa vào năm 2015.

Trong lĩnh vực xúc tiến và tự do hóa đầu tư, Việt Nam đã cùng các nước ASEAN đạt được những kết quả nhất định như xuất bản Sách hướng dẫn đầu tư cho doanh nghiệp, Báo cáo đầu tư ASEAN hàng năm; tổ chức các hội thảo, diễn đàn về xúc tiến đầu tư; xây dựng trang thông tin ASEAN về đầu tư...

Ngoài ra, Việt Nam đã và đang tích cực cùng các nước ASEAN triển khai hợp tác trong một số nội dung khác như cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ...

 

2. Vai trò và vị thế của Việt Nam trong quá trình xây dựng và thực hiện Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)

+ Đối với quan hệ nội khối:

ASEAN là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong nhiều năm qua, có mức tăng trưởng cao với lợi thế là một khu vực phát triển năng động, gần gũi về địa lý. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang các nước trong ASEAN chuyển biến theo chiều hướng tích cực, nâng cấp cả về chất lượng và giá trị. Xuất khẩu sang các nước trong ASEAN thường chiếm tỉ trọng cao. Từ những mặt hàng truyền thống mà Việt Nam có thế mạnh như nông sản sơ chế và nguyên nhiên liệu như gạo, cà phê, cao su, dầu thô có hàm lượng chế tác thấp, thời gian qua Việt Nam đã xuất khẩu nhiều mặt hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp như linh kiện máy tính, dệt may, nông sản chế biến với giá trị cao và ổn định. Việt Nam và các nước ASEAN khác cùng gia nhập các câu lạc bộ các nước xuất khẩu lớn nhất trên thế giới về gạo, cao su, cà phê, hạt điều, hàng dệt may.

Việt Nam là điểm đến đầu tư khá hấp dẫn của các nhà đầu tư ASEAN và các nhà đầu tư khác đóng trụ sở tại ASEAN.

Tính đến hết năm 2018, đã có 8/10 nước ASEAN (gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei, Indonesia, Philippines, Lào, Campuchia) đầu tư vào Việt Nam. Nhiều năm gần đây, Singapore, Malaysia, Thái Lan là ba nước thành viên ASEAN nằm trong danh sách 10 đối tác có vốn đăng kí FDI lớn nhất vào Việt Nam.

+ Trong khuôn khổ hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu:

Trọng tâm của Cộng đồng Kinh tế ASEAN là sáng kiến phát triển thị trường và cơ sở sản xuất ASEAN chung dựa trên sự kết nối sức mạnh của thị trường 10 nước ASEAN với khoảng 637 triệu người tiêu dùng và tong GDP gần 3.000 tỉ đô la Mỹ/năm.

Việt Nam có quy mô dân số trên 90 triệu dân, với tỉ lệ dân số trẻ ở mức cao. Vì thế, Việt Nam đóng góp đáng kể cho ASEAN cả về ý nghĩa thị trường và cơ sở sản xuất.

Việt Nam đã cùng với các nước ASEAN hợp tác sâu rộng với nhiều đối tác quan trọng, đặc biệt trên cơ sở các FTA giữa ASEAN với Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, Newzealand và Trung Quốc, tích cực thức đẩy việc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (Regional Comprehensive Economic Partnership - RCEP). Các nội dung hợp tác này đặt ASEAN vào vị trí trung tâm trong cấu trúc hội nhập kinh tế khu vực đang nổi lên và trở thành một trung tâm sản xuất và thị trường quan trọng của thế giới.

Việt Nam cũng đồng thời tham gia nhiều các FTA với các đối tác ngoài khối để mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và nâng cao tính ổn định, bền vững của thương mại và đầu tư thông qua các cam kết về môi trường kinh doanh, thương mại và đầu tư.

Bởi vậy, Việt Nam đóng vai trò là một điểm đến quan trọng cho đầu tư nước ngoài để sản xuất cho khu vực ASEAN và nhiều thị trường quan trọng. Đi cùng với đầu tư là dòng hàng hóa, dịch vụ và lao động có kĩ năng mà Việt Nam cần để nâng cao khả năng sản xuất của mình. Việt Nam cần hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng chất lượng cao, công nghệ tiên tiến, hiện đại để nâng cao khả năng cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập.

Do đó, Việt Nam cần tận dụng tốt nền tảng hội nhập kinh tế khu vực ASEAN để tăng cường liên kết và hội nhập kinh tế với nền kinh tế toàn cầu, tham gia vào các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị của thế giới trong tương lai.

 

3. Cơ hội, thách thức đối với Việt Nam khi tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)

+ Cơ hội:

Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) với mục tiêu trở thành một thị trường chung với khoảng 622 triệu dân, có sự tương đồng về văn hóa và thói quen tiêu dùng, với tổng GDP gần 3.200 tỉ USD, một không gian sản xuất thống nhất, giúp phát huy lợi thế chung của khu vực ASEAN. Hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và lao động có tay nghề sẽ được tự do lưu chuyển trong ASEAN mà không chịu bất cứ hàng rào hay sự phân biệt đối xử nào giữa các thành viên.

Việt Nam dễ dàng tiếp cận thị trường các nước trong khu vực và các nước trong khuôn khổ hợp tác của ASEAN, qua đó mở rộng thị trường, đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu; ổn định nguồn nhập khẩu và hạ giá đầu vào nhập khẩu, từ đó, góp phần cải cách quản lý, dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Trong nhiều năm trở lại đây, ASEAN thường đứng vị trí thứ tư trong số các thị trường xuất khẩu của Việt Nam sau Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc. Cụ thể, năm 2019, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 61,35 tỉ USD. Tiếp đến là thị trường EU đạt 41,48 tỉ USD. Thị trường Trung Quốc đạt 41,41 tỉ USD. ASEAN đứng thứ tư đạt 24,96 tỉ USD. Các mặt hàng có thể mạnh của Việt Nam xuất khẩu sang ASEAN gồm thuỷ sản, điện thoại và linh kiện, máy tính, dệt may, gỗ và sản phẩm từ gỗ, thực phẩm, thép... Tính chung kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam với ASEAN đạt 57,05 tỉ USD, chiếm 11,05%?

Việt Nam sẽ có cơ hội tăng cường thu hút FDI cũng như mở rộng cơ hội đầu tư sang các nước ASEAN và cơ hội kinh doanh từ bên ngoài; tiếp cận các nguồn hỗ trợ về khoa học - công nghệ, học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến, góp phần nâng cao trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Tính đến hết năm 2018 đã có 8/10 nước ASEAN (gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei, Indonesia, Philippines, Lào, Campuchia) đầu tư vào Việt Nam với 2.629 dự án còn hiệu lực. Tổng vốn đăng kí đạt 54,6 tỉ USD, chiếm 14,2% tổng số dự án và 21,7% tổng vốn đăng kí đầu tư của cả nước. Lĩnh vực thu hút được nhiều dự án của nhà đầu tư ASEAN là công nghiệp chế biến, chế tạo (1.009 dự án và 22,2 tỉ USD, chiếm 38% tổng số dự án và 40,8% tổng vốn đầu tư). Tính đến hết năm 2019, Singapore, Thái Lan là hai nước thành viên ASEAN nằm trong danh sách 10 đối tác có vốn đăng kí FDI lớn nhất vào Việt Nam. Trong đó, năm 2019, Singapore đứng vị trí thứ ba (sau Hàn Quốc và Hồng Kông (Trung Quốc)) với tổng vốn đầu tư đăng kí là 4,5 tỉ USD, chiếm 11,8% tổng vốn đàu tư.

Các doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi lớn nhờ phát huy hiệu quả từ quy mô để tăng năng suất và giảm chi phí sản xuất, dẫn tới giá cả hàng hóa cạnh tranh. Điều mong đợi hon cả là việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) có thể tạo nên sự liên kết chuỗi giữa các doanh nghiệp ASEAN, đóng góp vào tăng trưởng và thịnh vượng chung của khu vực. Bên cạnh đó, định hướng cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi cho thương mại mà ASEAN đang đặt ra cho giai đoạn sau năm 2015 sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp.

Người tiêu dùng ASEAN sẽ có nhiều lựa chọn về hàng hóa và dịch vụ với giá cả thấp và chất lượng cao hom. Thương mại và đầu tư nội khối có cơ hội phát triển nhanh chóng.

Những tác động tích cực từ Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ góp phần tạo chuyển biến trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật và thủ tục trong nước, phù hợp hơn với yêu cầu hội nhập quốc tế.

Việc thực hiện các cam kết trong ASEAN tạo nền tảng để Việt Nam tiếp tục mở rộng và tăng cường quan hệ với các đối tác ngoài ASEAN, nhất là các nước lớn, cũng như tham gia sâu rộng hơn vào các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam.

Ngoài ra, tham gia hợp tác kinh tế ASEAN tạo cơ hội để các doanh nghiệp cải thiện năng lực cạnh tranh; tạo cơ hội để Việt Nam tiếp tục thay đổi cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng giá trị gia tăng (từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang mặt hàng có chất lượng cao); nâng cao năng lực và hiệu quả của nguồn nhân lực Việt Nam...

+ Thách thức:

Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là môi trường cạnh tranh gay gắt hơn do hội nhập kinh tế khu vực mang lại, đặc biệt khi các quốc gia thành viên có đặc điểm sản xuất khá giống nhau, có những thế mạnh chung trong nhiều lĩnh vực. Trong khi đó, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn cần được cải thiện nhiều hơn nữa, liên quan đến nhiều nguyên nhân như hạn chế về hạ tầng, bao gồm cả các yếu tố hạ tầng cứng (đường sá, cảng biển, năng lượng,...) và hạ tầng mềm (hệ thống pháp lý, bộ máy hành chính...), hạn chế về nguồn nhân lực, tốc độ điều chỉnh cơ cấu kinh tế để lợi ích tăng trưởng kinh tế được phân bổ đồng đều hơn, hạn chế về nhận thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp, người dân trong việc ứng xử với quá trình hội nhập kinh tế.

Ngoài ra, việc tuân thủ luật choi chung và thực hiện các cam kết, thỏa thuận chung của ASEAN và giữa ASEAN với các nước đối tác, đòi hỏi đầu tư nguồn lực và điều chỉnh chính sách, pháp luật phù họp.

Tuy nhiên, xét một cách tổng thể, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ đem lại nhiều cơ hội và lợi ích thiết thực cho nền kinh tế, đặc biệt là cho các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và doanh nghiệp ASEAN nói chung.

 

4. Việt Nam tham gia các FTA thế hệ mới

Neu như gia nhập WTO được ví như khởi đầu “làn sóng hội nhập lần thứ nhất”, thì hiện nay, Việt Nam đang tham gia đàm phán, kí kết và thực hiện một số FTA thế hệ mới, kì vọng sẽ tạo ra “làn sóng hội nhập lần thứ hai” mạnh mẽ hơn.

Tính tới thời điểm tháng 12/2019, Việt Nam đã kí kết được 13 FTA (Các FTA đã kí kết gồm: ASEAN - Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC); ASEAN - Ấn Độ; ASEAN - Hàn Quốc; ASEAN - Hồng Kông (Trung Quốc); ASEAN - Nhật Bản; ASEAN - Trung Quốc; ASEAN - Australia, New Zealand; CPTPP (TPP11); Việt Nam - Chi Lê; Việt Nam - Hàn Quốc; Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu; Việt Nam - Nhật Bản; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và đang đàm phán, chưa kí kết 3 FTA (Các FTA chưa kí kết gồm: Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) bắt đầu đàm phán từ ngày 09/5/2013; Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Khối EFTA bắt đầu khởi động đàm phán từ tháng 5/2012; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Israel bắt đầu khởi động đàm phán từ tháng 12/2015).

Các FTA thế hệ mới điển hình mà Việt Nam tham gia: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), FTA giữa Việt Nam - EU (EVFTA). Với tiêu chuẩn cao của Hiệp định FTA toàn diện, hai hiệp định này bao gồm nhiều nội dung mới, phi truyền thống so với các FTA trước đây.

CPTPP được kí kết,vào ngày 08/3/2018 bởi 11 nước thành viên còn lại của TPP (Canada, Mexico, Peru, Chile, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia, Việt Nam); bắt đầu có hiệu lực từ ngày 30/12/2018 (Theo quy định, CPTPP sẽ có hiệu lực 60 ngày sau khi được 6 nước phê chuẩn. Sau Nhật Bản, Mexico, Singapore, New Zealand và Canada, Australia là quốc gia thứ 6 đã phê chuẩn CPTPP vào ngày 30/10/2018), có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày 14/01/2019. CPTPP gồm 30 chương và 9 phụ lục điều chỉnh rất nhiều vấn đề từ thương mại truyền thống như mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vốn; đến các vấn đề ít truyền thống hơn như mua sắm của các cơ quan chính phủ, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước và mở rộng ra cả các vấn đề được coi là phi truyền thống trong đàm phán, kí kết các FTA như lao động, môi trường, chống tham nhũng trong thương mại và đầu tư. về tổng thể, CPTPP được đánh giá là một FT A chất lượng cao và toàn diện với phạm vi cam kết rộng, mức độ cam kết sâu nhất từ trước tới nay. Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với CPTPP, Việt Nam sẽ đạt được lợi ích không nhỏ từ xuất khẩu với tổng mức tăng thêm về kim ngạch hơn 4%, tương đương khoảng 4 tỉ USD. Việc tăng xuất khẩu sẽ chủ yếu ở nội khối với tốc độ tăng xuất khẩu sang các nước trong CPTPP thêm 14,3% (giả định lũy tiến đến năm 2035), tương đương 2,61 tỉ USD, trong khi xuất khẩu sang các quốc gia ngoài CPTPP sẽ tăng thêm 1,7% (tương đương 1,4 tỉ USD). Như vậy, CPTPP có tác động chuyển hướng thương mại khá lớn và việc tham gia hiệp định này có thể giúp Việt Nam đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, từ đó thúc đẩy tăng trưởng nhiều ngành sản xuất trong nước. Dệt may và da giày được cho là những ngành sẽ hưởng lợi nhiều nhất về tăng thêm quy mô sản xuất cũng như giá trị xuất khẩu; tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tăng thêm của dệt may được dự báo sẽ ở mức từ 8,3% đến 10,8%. Các ngành công nghiệp nhẹ và thâm dụng lao động cũng được hưởng lợi từ CPTPP. Theo tính toán, CPTPP có thể tạo thêm mức tăng trưởng cho nhóm ngành này từ 4% đến 5%, và mức tăng xuất khẩu có thể đạt thêm từ 8,7% đến 9,6%.

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã kết thúc đàm phán ngày 01/12/2015, ngày 01/2/2016 văn bản hiệp định đã được công bố. Ngày 26/6/2018, EVFTA được tách làm hai hiệp định: một là hiệp định về thương mại và một là hiệp định bảo hộ đầu tư. Tháng 8/2018, hai bên công bố chính thức hoàn tất việc rà soát pháp lý đối với Hiệp định Thương mại (FTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (IPA). Ngày 30/6/2019, Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU chính thức được kí kết. Nội dung chính của EVFTA quy định các hoạt động truyền thống mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, cạnh tranh, phòng vệ thương mại và cả các vấn đề mới bao gồm thương mại và phát triển bền vững, sở hữu trí tuệ, mua sắm Chính phủ.... Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) nhận định: Ngay khi EVFTA có hiệu lực, Việt Nam sẽ xóa bỏ 65% thuế nhập khẩu đối với hàng xuất khẩu từ EU. Các dòng thuế còn lại sẽ được giỡ bỏ dần trong thời gian 10 năm tới. 99% thuế quan đánh vào hàng hóa giao thương giữa hai phía sẽ được xóa bỏ. Thuế suất 0% sẽ được áp dụng cho các mặt hàng xuất khẩu mà hai bên có thế mạnh như dệt may, giày dép, thủy sản, nông sản nhiệt đới, đồ gỗ... của Việt Nam và ô tô, máy móc - thiết bị, rượu bia, dược phẩm, nông sản ôn đới... của EU. Hiệp định Tự do thương mại có những điều khoản giải quyết các hàng rào phi thuế quan đang tồn tại trong ngành ô tô, cũng như bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho 169 sản phẩm thực phẩm và đồ uống của châu Âu tại Việt Nam. về tổng thể, EVFTA sẽ giúp GDP Việt Nam tăng thêm 10 - 15% và nâng xuất khẩu của Việt Nam sang EU thêm 30 - 40% trong hơn 10 năm tới. Dòng vốn chất lượng cao được dự báo sẽ vào Việt Nam, sản phẩm với những chất lượng tiêu chuẩn châu Âu sẽ được xuất khẩu với xuất xứ rõ ràng.

Các cam kết tại hai FTA này sẽ có những tác động tích cực đến hoạt động cải cách hành chính, luật pháp, kể cả thể chế của Việt Nam. Việc thực hiện các cam kết về hàng hóa, hải quan, thuận lợi hóa thương mại, dịch vụ, đầu tư đang tạo nên sức ép, yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam phải điều chỉnh các quy định pháp luật có liên quan, đơn giản hóa thủ tục hành chính về cấp phép đầu tư, giấy phép kinh doanh, thủ tục hải quan, xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo tính minh bạch hóa và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp. Việc tham gia các FTA này cũng sẽ tạo nên môi trường thuận lợi, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm, thúc đẩy quá trình xây dựng và hoàn thiện kinh tế thị trường tại Việt Nam. Các FTA này cũng sẽ góp phần hình thành các chuỗi sản xuẩt có sự liên kết chặt chẽ, bồ trợ lẫn nhau và cùng có lợi, từ đỏ thúc đẩy chuyển giao công nghệ giữa trong nước và nước ngoài. Những tác động này cỏ ý nghĩa lớn đổi với Việt Nam, đặc biệt trong bổi cảnh nước ta chù trương thu hút công nghệ hiện đại và thân thiện với môi trường, cũng như nỗ lực trở thành trung tâm của khu vực về các hoạt động công nghệ, logistics và sản xuất.

Luật Minh Khuê (tổng hợp)