1. Phân tích phạm áp dụng việc truy cứu trách nhiệm hình sự với pháp nhân

Các loại hình pháp nhân trong mỗi quốc gia rất đa dạng. Tất cả các loại hình pháp nhân đểu có thể là chủ thể của quan hệ pháp luật nhưng không phải tất cả đểu được xác định có thể là chủ thể của trách nhiệm hình sự. Mỗi quốc gia có thể và cần xác định rõ phạm vi các loại hình pháp nhân có thể là chủ thể của trách nhiệm hình sự để đảm bảo việc xác định này phù hợp với thực trạng vi phạm pháp luật và các điểu kiện thực tế khác của quốc gia mình. Theo đó, chủ thể của trách nhiệm hình sự theo Pháp là các pháp nhân (trừ Nhà nước); theo Áo là pháp nhân, các công ty hợp danh, các hiệp hội vì lợi ích kinh tế châu Âu và theo Thuỵ Sỹ là pháp nhân theo luật tư, pháp nhân theo luật công (trừ các tổ chức vùng lãnh thổ), các công ty, các doanh nghiệp tư nhân; theo Trung Quốc là công ty, xí nghiệp, cơ quan, tổ chức, đoàn thể. Việt Nam xác định chủ thể của trách nhiệm hình sự chỉ có thể là pháp nhân thương mại.

Việc xác định phạm vi các tổ chức có thể là chủ thể của trách nhiệm hình sự là quyền lựa chọn của mỗi quốc gia. Khi đã thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân, các quốc gia cẩn xác định cụ thể các loại hình tổ chức có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và đặt tên chung cho các chủ thể đã được xác định đó.

Khi quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, cũng cẩn xác định phạm vi các tội phạm mà chủ thể này có thể phải chịu trách nhiệm cũng như các chế tài có thể được áp dụng (bao gồm các hình phạt và các biện pháp phi hình phạt).

Về nguyên tắc, pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự vê' tất cả các tội phạm khi pháp nhân có quan hệ đặc biệt với tội phạm đã thực hiện cũng như với người đã thực hiện tội phạm đó mà quan hệ đặc biệt này được luật phản ánh qua các điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

Trong các quốc gia được nghiên cứu, chỉ có Trung Quốc giới hạn phạm vi các tội danh mà tổ chức có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo Điều 30 BLHS Trung Quốc, tổ chức chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm được xác định rõ trong từng điều luật. Theo đó, Tội phạm do tổ chức thực hiện chiếm khoảng 1/3 tổng số tội phạm được quy định trong BLHS, trong đó đa sô' tội phạm do tổ chức thực hiện thuộc loại tội phạm phá hoại trật tự kinh tế xã hội chủ nghĩa...”.Pháp cũng giới hạn phạm vi các tội phạm mà pháp nhân có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi bắt đầu quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nhưng hiện nay, giới hạn này đã bị xóa bỏ.

Về chế tài hình sự quy định cho pháp nhân, các quốc gia có thể sử dụng hình phạt đã được quy định cho cá nhân mà có thể áp dụng cho pháp nhân là hình phạt tiền. Đó là hình phạt có tính “trừng trị”, răn đe pháp nhân. Ngoài ra, một số biện pháp an ninh có tính phòng ngừa cũng có thể được quy định để áp dụng cho pháp nhân.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân và trách nhiệm hình sự của cá nhân/thể nhân tuy có chung sở là hành vi cấu thành tội phạm của cá nhân nhưng là hai trách nhiệm hình sự có tính độc lập với nhau và không loại trừ nhau. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân không thay thế trách nhiệm hình sự của cá nhân/thể nhân mà là trách nhiệm hình sự mở rộng. Tính độc lập của hai loại trách nhiệm hình sự này thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Trách nhiệm hình sự của cá nhân/thể nhân dựa trên cơ sở hành vi phạm tội của chính cá nhân nên không phụ thuộc vào trách nhiệm hình sự của pháp nhân và việc truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Trách nhiệm hình sự của hai chủ thể này cùng tồn tại, trong đó trách nhiệm hình sự của pháp nhân được coi là trách nhiệm hình sự mở rộng.

- Trách nhiệm hình sự của pháp nhân dựa trên cơ sở hành vi của cá nhân (một cá nhân hoặc nhiều cá nhân) đã cấu thành tội phạm cụ thể mà không phụ thuộc trách nhiệm hình sự của cá nhân. Cá nhân có thể được miễn trách nhiệm hình sự nhưng điều này không có nghĩa pháp nhân vì đó mà cũng được miễn trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Trách nhiệm hình sự là gì ? Phân tích đặc điểm của trách nhiệm hình sự ?

- Trách nhiệm hình sự của pháp nhân có tính độc lập với trách nhiệm hình sự của cá nhân nhưng không độc lập với hành vi phạm tội của cá nhân. Khi hành vi của cá nhân (một cá nhân hoặc nhiều cá nhân) đã cấu thành tội phạm cụ thể thì pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này nếu các điều kiện phải chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thỏa mãn. Không thể vì lý do nào đó để có thể thêm dấu hiệu cho hành vi phạm tội khi quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Việc bổ sung dấu hiệu định tội như vậy không chỉ trái với bản chất của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân mà đã giới hạn không có cơ sở phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân, làm giảm ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân.

2. Quy định về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại

Khoản 2 Điều 2 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:

“Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự ".

Như vậy, nội dung quy định này vừa khẳng định cơ sở pháp lí của trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, vừa chỉ rõ phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Theo đó, Điều 76 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã xác định phạm vi (giới hạn) các tội danh mà pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự khi thoả mãn các điều kiện được quy định tại Điều 75 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cụ thể, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế, một số tội phạm về môi trường và một số tội xâm phạm an toàn công cộng, ttật tự công cộng được xác định tại Điều 76 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đó là:

1. Tội buồn lậu (Điều 188); tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới (Điều 189); tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190); tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191); tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 195); tội đầu cơ (Điều 196)...

2. Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235); tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237); tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng chống thiên tai, vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239)...

3. Tội tài trợ khủng bổ (Điều 300); tội rửa tiền (Điều 324).

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội ?

>> Xem thêm:  Mẫu đơn thông báo và yêu cầu bồi thường khi xảy ra tai nạn giao thông