1. Mở đầu vấn đề

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

Có thể thấy việc một tổ chức hay cá nhân có công sức nghiên cứu, sáng tạo để hoàn thành một công trình, một sản phẩm mới sẽ được công nhận quyền sở hữu trí tuệ. Các tác phẩm sẽ được pháp luật bảo hộ trên các phương diện như quyền sở hữu trí tuệ của tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng.

Theo kinh nghiệm của các FTAs, các nhà đàm phàn của Hiệp định Khu vực Kinh tế châu Âu (EEA) nhận thức rất rõ tầm quan trọng của các điều khoản sở hữu trí tuệ đầy đủ tạo cho hoạt động tự do di chuyển hàng hoá thích hợp trong khu vực và họ muốn điều này phản ảnh rõ ràng trong Hiệp định.

Vấn đề quyền sở hữu trí tuệ được đề cập tại Điều 65 (2) của Hiệp định EEA. Điều này dẫn chiếu Nghị định thư số 28 và Phụ lục XVII có nêu những điều khoản và những thoả thuận riêng biệt, liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ cho tất cả sản phẩm và dịch vụ trong phạm vi EEA, trừ khi có qui định khác. Có thể nói rằng Hiệp định EEA nói chung bao gồm tất cả các pháp luật của EC liên quan đến sở hữu trí tuệ.

 

2. Đôi nét về Hiệp định EEA

Hiệp định về EEA có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1994. Hiệp định này nhằm tăng cường quan hệ kinh tế và thương mại giữa các bên ký kết và chủ yếu quan tâm đến bốn trụ cột cơ bản của thị trường nội bộ, đó là: sự di chuyển tự do của hàng hóa, con người và dịch vụ. và vốn. Sự sẵn có của dữ liệu thống kê có thể so sánh được coi là có liên quan đến bốn quyền tự do và do đó được bao gồm trong thỏa thuận.

Nó là một thỏa ước giữa các nước hội viên của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (European Free Trade Association, EFTA), Cộng đồng châu Âu (EC), và mọi nước thành viên của Liên minh châu Âu (EU). Nó cho phép các nước hội viên của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu tham gia vào thị trường chung châu Âu mà không gia nhập Liên minh châu Âu.

Việc mở rộng EU có tác động trực tiếp đến Hiệp định EEA và EEA mở rộng hiện bao gồm 30 quốc gia.

Hiệp định EEA nhìn chung đã mở rộng các quy định về thị trường nội địa của EU sang các nước EFTA EEA (Ice­land, Liechtenstein và Na Uy). Trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, đương nhiên EEA có thể xây dựng trên chế độ buôn bán miễn thuế đã đạt được theo các hiệp định thương mại tự do nói trên.

Đối với hàng hoá công nghiệp, các điều khoản của Hiệp định EEA áp dụng cho các sản phẩm thuộc Chương 25 đến 97 của Hệ thống HS, trừ hoá chất casein và một số họp chất albumins và dextrins. Các điều khoản của Hiệp định này cũng áp dụng cho nông sản chế biến nhưng phải tuân theo một số quy định đặc biệt đề ra trong Nghị định thư số 3. Đối với nông sản, người ta đã đồng ý sẽ xem xét những vấn đề cụ thể nảy sinh và định kỳ rà soát lại các điều kiện thương mại hướng tới mục tiêu dần dần tự do hoá. Ngoài ra, câc quy định chung về thú ý và kiểm dịch thực vật cũng được đưa vào trong Hiệp định.

Nghi định thư số 9 của Hiệp định EEA đưa ra các điều khoản áp dụng cho buôn bán cá và các loại hải sản khác. Các nước tham gia EFTA EEA sẽ bỏ thuế nhập khẩu và những hạn chế định lượng nhập khẩu đối với tất cả các mặt hàng này trong khi cam kết của EU không triệt để như vậy.

Buôn bán các sản phẩm than và thép được đề cập đến trong Nghị định thư số 14 với quy định về loại bỏ thuế quan và các hạn ché định lượng. Buôn bán các sản phẩm này phải tuân thủ các hiệp định giữa các nước thành viên EFT A EEA và thành viên của ECSC.

Các nước hội viên của Khu vực kinh tế châu Âu không phải là hội viên của Liên minh châu Âu (Iceland, Liechtenstein và Na Uy) đồng ý thi hành pháp luật tương tự như của Liên minh châu Âu trong các lãnh vực chính sách xã hội, bảo vệ người tiêu dùng, môi trường thiên nhiên, luật công ty và thống kê. Một số lãnh vực trên vốn đã được thi hành trong Cộng đồng châu Âu ("trụ cột" thứ nhất của Liên minh châu Âu).

Các nước nói trên không có đại diện trong các cơ quan của Liên minh châu Âu, chẳng hạn như Quốc hội châu Âu hoặc Ủy ban châu Âu. Tháng 2 năm 2001, thủ tướng Na Uy Jens Stoltenberg mô tả tình trạng này là một "fax democracy" (dân chủ sao chép), với việc Na Uy chờ đợi luật pháp mới nhất được Ủy ban châu Âu đánh fax tới.

Các bên ký kết Thỏa ước Khu vực kinh tế châu Âu là 3 trong số 4 nước thuộc Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu —Iceland, Liechtenstein và Na Uy (ngoại trừ quần đảo Svalbard)—và 27 nước hội viên Liên minh châu Âu cùng Cộng đồng châu Âu.

Thụy Sĩ không thuộc Khu vực kinh tế châu Âu. Một cuộc trưng cầu ý dân (được Hiến pháp Thụy Sĩ cho phép) đã được tổ chức và đã bác bỏ đề nghị tham gia tổ chức này.[3] Thụy Sĩ liên kết với Liên minh châu Âu bởi thỏa hiệp song phương Thụy Sĩ - Liên minh châu Âu, với nội dung khác biệt với thỏa hiệp của Khu vực kinh tế châu Âu.

Áo, Phần Lan và Thụy Điển gia nhập Khu vực kinh tế châu Âu năm 1994, nhưng Thỏa hiệp Khu vực kinh tế châu Âu được thay thế bằng chức hội viên Liên minh châu Âu năm 1995.

 

3. Hết quyền theo Hiệp định EEA

Nguyên tắc của việc hết quyền trong khu vực EEA được nêu tại Điều 2 của Nghị định thư số 28. Tuy nhiên, Hiệp định EEA lại không đề cập việc hết quyền trên phạm vi quốc tế liệu có buộc các nước EFTA hạn chế qui tắc hết quyền ở phạm vi khu vực hay không. Gần đây Toà án EFTA mới cho ý kiến Tư vấn về vấn đề này. Về cơ bản, Toà nêu rằng, do không có điều khoản nói rõ ràng trong Hiệp định EEA về việc loại trừ qui tắc hết quyền trên phạm vi quốc tế và thiếu ý kiến xét xử của Toà ECJ đối với vấn đề này, nên Toà EFTA không thể kết luận rằng, việc vận dụng hết quyền trong khu vực EEA có nghĩa rằng, việc hết quyền quốc tế bị loại trừ đối với các nước EFTA liên quan đến hàng hoá xuất xứ từ ngoài EEA.

Kết luận này được các nước EFTA hoan nghênh, vì thông qua đàm phán, họ nhấn mạnh muốn giữ việc hết quyền quốc tế đối với thương hiệu. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của phán quyết Toà ECJ mới đây, nhân vụ Silhouette (đã nêu trên), thì việc rút quyền trên phạm vi quốc tế dường như bị loại trừ đối với hàng hoá xuất xứ EEA ngay tại các Quốc gia EFTA.

 

4. Bằng sáng chế theo Hiệp định EEA

Bằng sáng chế là Loại văn bằng bảo hộ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, là chứng chỉ duy nhất của nhà nước xác nhận quyền sở hữu công nghiệp của chủ thể được cấp văn bằng - tác giả của sáng chế.

Theo Công ước Pari 1883 và một số điều ước quốc tế khác liên quan, bằng sáng chế là bằng độc quyền sáng chế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người nộp đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế.

Bằng sáng chế xác nhận: giải pháp kĩ thuật sáng chế, chủ bằng độc quyền sáng chế và quyền sở hữu sáng chế của chủ bằng, tác giả sáng chế và quyền của tác giả đó.

Thời hạn có hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế do pháp luật của mỗi nước quy định và được tính từ ngày đầu tiên của đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế.

Tác giả sáng chế có quyền được ghi tên trong bằng độc quyền sáng chế và các tài liệu khoa học kĩ thuật có liên quan được công bố, nhận thù lao do chủ bằng độc quyền sáng chế trả theo quy định nêu trên. Trong thời gian hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế, bất cứ tổ chức, cá nhân nào đó những hành động sử dụng sáng chế mà không được phép của chủ bằng thì bị coi là xâm phạm quyền sở hữucủa chủ bằng độc quyền sáng chế.

Khi Hiệp định EEA được đàm phán đầu những năm 1990, người ta lạc quan rằng Hiệp định về Bằng Sáng chế Cộng đồng (CPA) sẽ có hiệu lực thi hành. Do đó, có các khoản trong Điều 3 của Nghi định thư số 28 về cách các Quốc gia EFTA gắn kết như thế nào vào hệ thống.

Vì vậy Điều này một phần thành lỗi thời: Bây giờ có thể thừa nhận các khoản trong Điều 8 của Nghị định thư 28 liên quan đến việc cấc nước EFTA tham gia trong tương lai các biện pháp của EC về lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ sẽ áp dụng trường họp qui định bằng sáng chế của EC.

Trong Điều 3 của Nghị định thư 28 còn nêu thêm rằng các Quốc gia EFTA phải tuân theo các điều khoản chủ yếu của EPC. Liechtenstein là một thành viên của EPC trong khi Iceland và Na Uy không phải, song các điều khoản chủ yếu tương quan về pháp lý đối với bằng sáng chế tại hai quốc gia này lại có cách hành văn tương tự như EPC.

 

5. Sản phẩm bán dẫn và quan hệ nước thứ ba theo Hiệp định EEA

Hiệp định EEA không đề cập quan hệ với nước thứ ba. Nhưng người ta nhận thấy trong một số lĩnh vực việc phối kết tùng trường hợp có thể rất tốt cho việc vận hành của Hiệp định.

Sự hợp tác của nước thứ ba dường như cần thiết trong lĩnh vực bảo hộ sơ đồ chi tiết của sản phẩm bán dẫn, giống như sự bảo hộ các công dân ngoài EU dựa trên cơ sở có đi có lại. Trong các khoản của Điều 4 Nghị định thư 28 có nêu vấn đề này. Tuy nhiên các nghĩa vụ nảy sinh từ việc Hiệp định TRIPs có hiệu lực thi hành có nghĩa là giờ đây sự bảo hộ được áp dụng cho tất cả các công dân của các thành viên WTO mà không cần đòi hỏi có đi có lại trong EEA.

 

6. Các công ước và tổ chức quốc tế

Hài hoà hoá và hợp tác quốc tế về nhiều mặt rất quan trọng đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hơn là sự bảo hộ về pháp lý.

Kết quả là Điều 5 của Nghị định thư 28 thuộc Hiệp định EEA bắt buộc trước ngày 1-1-1995 tất cả các nước EEA phải trở thành thành viên của một số công ước quốc tế nhất định. Nghĩa vụ này được hầu hết các Quốc gia EEA thực hiện.

Cuối cùng, trong Điều 7 của Nghị định thư 28, các bên ký kết đảm nhận báo tin cho nhau về công việc trong khuôn khổ các tố chức quốc tế giải quyết quyền sở hữu trí tuệ. Trong các lĩnh vực thuộc các biện pháp EC áp dụng, Điều này qui định phải tham khảo trước trong bối cảnh và khuôn khổ của diễn đàn quốc tế. Công việc này được thực hiện trong phạm vi nhóm công tác về sở hữu trí tuệ của EEA.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng!

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và biên tập).