- 1. Nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ chưa đủ 15 tuổi.
- 2. Nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
- 3. Nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự.
- 4. Người giám hộ có quyền gì?
- 5. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người có khó khăn trong nhân thức, làm chủ hành vi.
1. Nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ chưa đủ 15 tuổi.
Điều 55 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
Điều 55. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi
1. Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ.
2. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
3. Quản lý tài sản của người được giám hộ.
4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Thứ nhất, người giám hộ có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục người được giám hộ. Xuất phát từ việc người được giám hộ là trẻ chưa thành niên, dưới mười lăm tuổi, vì thế vai trò của người giám hộ ở đây cũng tương tự như cha mẹ. Người giám hộ phải thực hiện việc chăm sóc, bảo đảm về sức khỏe và an toàn cho đứa trẻ. Bên cạnh đó, phải phối hợp cùng với nhà trường, cơ sở giáo dục để đảm bảo quyền học tập của đứa trẻ.
- Thứ hai, đại diện cho người được giám hộ tham gia các giao dịch dân sự mà người được giám hộ không thể tự mình xác lập, thực hiện. Việc đại diện để tham gia vào các giao dịch dân sự cho người được giám hộ là hành vi đảm bảo quyền lợi về tài sản của người được giám hộ. Đặc biệt khi người giám hộ là người quản lý tài sản và người được giám hộ trong hầu hết các giao dịch dân sự không thể tự mình xác lập, thực hiện.
- Thứ ba, quản lí tài sản của người được giám hộ. Nghĩa vụ này của người giám hộ yêu cầu trách nhiệm của người giám hộ đối với việc chiếm hữu, quản lý và đưa tài sản của người được giám hộ vào các giao dịch dân sự, trên tinh thần đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho người được giám hộ.
- Thứ tư, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Nghĩa vụ này của người giám hộ có thể coi là sự tổng hợp các nghĩa vụ bên trên và nhằm đảm bảo mục đích giám hộ.
2. Nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
Điều 56 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:
Điều 56. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
1. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.
2. Quản lý tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Như vậy, người giám hộ có ba nhóm nghĩa vụ. So với các nghĩa vụ mà người giám hộ phải thực hiện với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi đã nêu ở phần một thì nghĩa vụ của người giám hộ của trẻ từ đủ mười lăm đến chưa đủ mười tám chỉ bớt đi nghĩa vụ đầu tiên- (chăm sóc, giáo dục người được giám hộ). Còn các nghĩa vụ khác là tương tự. Điều này xuất phát từ lứa tuổi của người được giám hộ trong trường hợp này đã tương đối có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi dân sự, có thể tự chăm lo cho bản thân ở mức độ tương đối. Tuy nhiên, vì năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ nên việc tham gia vào các giao dịch dân sự nói riêng, các quan hệ pháp luật nói chung của đứa trẻ vẫn cần có sự đại diện, bảo vệ của người giám hộ.
3. Nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự.
Bộ luật dân sự 2015 đã quy định rõ các nghĩa vụ của người giám hộ với người được giám hộ là người mất năng lực hành vi dân sự tại Điều 57, cụ thể:
1. Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
b) Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
c) Quản lý tài sản của người được giám hộ;
d) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
- Theo đó, người giám hộ cho người mất năng lực hành vi có bốn nhóm nghĩa vụ. Các nhóm nghĩa vụ này tương tự như nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ là trẻ chưa đủ mười lăm tuổi, chỉ khác ở yếu tố nhấn mạnh việc chăm sóc người mất năng lực hành vi dân sự đi kèm với bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ.
+ Nghĩa vụ thứ nhất, chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể nhận thức và làm chủ được hành vi nên người giám hộ cần chăm sóc người được giám hộ. Người mất năng lực hành vi dân sự thường do mắc các bệnh tâm thần hoặc một số bệnh khác làm cho người này không thể nhận thức và làm chủ hành vi nên việc điều trị là rất quan trọng, nhiều trường hợp được điều trị thì bệnh nhân có thể phục hồi lại như người bình thường.
+ Đại diện cho người được giám hộ tham gia các giao dịch dân sự. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể nhận thức cũng như làm chủ được hành vi của mình nên việc tham gia vào các giao dịch dân sự sẽ được thực hiện thông qua người giám hộ.
+ Quản lí tài sản của người giám hộ. Nếu người mất năng lực hành vi dân sự có tài sản thì tài sản này sẽ do người giám hộ quản lí, bảo quản, sử dụng tài sản vì lợi ích của người được giám hộ. Bộ luật dân sự 2015 đã giành một Điều luật riêng quy định về vấn đề này.
Điều 59. Quản lý tài sản của người được giám hộ
1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ.
Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quản lý tài sản của người được giám hộ theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều này.
+ Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
4. Người giám hộ có quyền gì?
Theo khoản 1 Điều 58 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 58. Quyền của người giám hộ
1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có các quyền sau đây:
a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;
b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
Thứ nhất, người giám hộ có quyền sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ. Trừ những trường hợp người giám hộ phải sử dụng chính tài sản của mình để thực hiện việc giám hộ, các trường hợp khác, việc giám hộ được thực hiện bởi hành vi của người giám hộ nhưng trên cơ sở tài sản của người được giám hộ đang được quản lý bởi người giám hộ. Do đó, người giám hộ phải có quyền sử dụng tài sản này để đảm bảo cho việc chăm sóc người được giám hộ. Nhu cầu thiết yếu ở đây có thể hiểu là nhu cầu cơ bản trong cuộc sống như ăn, mặc, ở, đi lại....
Thứ hai, người giám hộ sẽ được thanh toán các chi phí hợp lí cho việc quản lí tài sản của người được giám hộ. Mục đích chính của việc giám hộ là việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Do đó, người giám hộ có nghĩa vụ phải thực hiện các hành vi phù hợp với mục đích này. Tuy nhiên, họ cũng có quyền được thanh toán các chi phí hợp lý khi thực hiện việc giám hộ của mình. Cụ thể, nếu việc quản lý, bảo quản tài sản của người được giám hộ dẫn đến hậu quả là người giám hộ phải chi trả những chi phí nhất định thì họ sẽ được quyền nhận lại các chi phí này. Ví dụ như người được giám hộ có một ngôi nhà, do mưa bão nên ngôi nhà cần được tu sửa lại. Chi phí mà người giám hộ đã bỏ ra trong trường hợp này sẽ được hoàn lại.
Thứ ba, đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Việc đại diện để tham gia các giao dịch dân sự cũng như thực hiện các quyền khác của người giám hộ đối với người được giám hộ vừa là quyền vừa là nghĩa vụ. Trong từng hoàn cảnh cụ thể, người giám hộ có thể xem xét quyết định mình có tham gia đại diện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ hay không hoặc pháp luật xem xét bắt buộc việc tham gia này của người giám hộ.
5. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người có khó khăn trong nhân thức, làm chủ hành vi.
- Theo khoản 2 Điều 57 Bộ luật dân sự 2015 thì nghĩa vụ của người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được quy định như sau:
Điều 57. Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
1. Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho người được giám hộ;
b) Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự;
c) Quản lý tài sản của người được giám hộ;
d) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án trong số các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều luật trên không quy định cụ thể về nghĩa vụ của người giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Thay vào đó, điều luật trao quyền quyết định về nghĩa vụ cho Tòa án. Tuy nhiên, quyền quyết định về nghĩa vụ của người giám hộ của Tòa án cũng chỉ nằm trong phạm vi bốn nhóm nghĩa vụ của người giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, Tòa án không được tự ý mở rộng hoặc quy định thêm các nghĩa vụ khác cho người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Quyền của người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cũng được quy định tương tự như phần nghĩa vụ. Theo đó đối với trường hợp người có khó khăn trong nhận thức hành vi, người giám hộ có quyền nào trong những quyền này sẽ phụ thuộc vào quyết định của Tòa án.
Điều 58. Quyền của người giám hộ
1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có các quyền sau đây:
a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;
b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;
c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.
2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Trân trọng./.