1. Khái niệm của pháp luật về hợp đồng điện tử

Theo quy định tại Luật Giao dịch điện tử 2005 có nêu

Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này.

Hợp đồng điện tử có giá trị như hợp đồng truyền thống theo quy định tại Điều 33 và Điều 34 Luật Giao dịch điện tử 2005: “.Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu. Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu". Một số đặc điểm có thể đề cập đến của hợp đồng điện tử :
Thể hiện qua hợp đồng thông thường là:Thể hiện qua các thông điệp dữ liệu điện tử. Do đó, hợp đồng điện tử được ký kết thông qua các thông điệp dữ liệu. Đề nghị giao kết, chấp nhận giao kết, nhận và gửi hợp đồng diễn ra dưới dạng tin nhắn. Đạo luật giao dịch điện tử quy định các yếu tố liên quan đến thông điệp dữ liệu, bao gồm khái niệm về người gửi, người nhận thông điệp dữ  liệu, thời gian và địa điểm gửi và nhận thông điệp dữ liệu, v.v. Trong bối cảnh thực hiện hợp đồng,  thông tin liên lạc trong hình thức thông điệp dữ liệu  có hiệu lực pháp lý tương tự như thông tin liên lạc theo cách thông thường. Yếu tố này thể hiện tính hiện đại, nhanh chóng và có lợi hơn  nhiều so với hợp đồng truyền thống. Có ít nhất 3 bên tham gia ký kết hợp đồng. Trong đó các bên khác có liên quan ngoài người mua và người bán. Nhà cung cấp  dịch vụ mạng và  cơ quan chứng thực chữ ký điện tử phạm vi giới hạn  trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác theo quy định của Luật Hợp đồng Điện tử.

2.Nguyên tắc giao kết giữa hợp đồng điện tử

Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng

Chủ thể tham gia sử dụng phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, kỹ thuật số, điện tử, từ tính, quang học, điện từ, truyền dẫn không dây hoặc công nghệ tương tự trong giao kết và soạn thảo, thực hiện hợp đồng. Cần tuân thủ các quy tắc của Luật Giao dịch điện tử và Pháp luật về Hợp đồng trong cách thức giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Chủ thể tham gia giao kết có quyền trao đổi, thỏa thuận về yêu cầu kỹ thuật, xác thực các điều kiện bảo đảm tính vẹn toàn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó. Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình thực hiện. Trừ trường hợp chủ thể có thỏa thuận khác, trong giao kết và thực hiện hợp đồng, đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu.

3. Điều kiện hình thành hợp đồng điện tử

Nguyên tắc tự nguyện giữa các bên

Theo đó nguyên tắc này là một hợp đồng điện tử được hình thành phải hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện thoả thuận (tự do ý chí) giữa các chủ thể mà không chịu sự áp đặt ý chí giữa các bên hay bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Mọi sự tác động làm mất tính tự nguyện của các bên trong quá trình ký kết hợp đồng điện tử đều sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng.

Trong đó, quyền tự do hợp đồng sẽ gồm những nội dung sau:

+ Tự do lựa chọn bạn hàng, đối tác

+ Tự do thoả thuận các nội dung điều khoản trong hợp đồng;

+ Tự do lựa chọn thời điểm, địa điểm giao kết hợp đồng.

Tuy nhiên, quyền tự do ký kết hợp đồng sẽ bị giới hạn bởi một số điều kiện sau:

+ Việc ký kết hợp đồng phải phục vụ cho hoạt động đã đăng ký hay các hoạt động hợp pháp

+ Các bên không được lợi dụng bất kì quyền tự do ký kết hợp đồng để thực hiện các hoạt động trái pháp luật.

Việc ký kết hợp đồng theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh là bắt buộc, tức là các đơn vị được nhà nước giao cho chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh thì có nghĩa vụ ký kết hợp đồng để thực hiện chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh đó.

- Nguyên tắc đôi bên cùng có lợi

Việc thực hiện hợp đồng phải diễn ra với tinh thần trung thực, cùng nhau thoả thuận những điều khoản hợp đồng để hợp tác và cùng có lợi, bảo đảm sự tin cậy lẫn nhau giữa các bên trong quan hệ hợp đồng; không được lừa dối chèn ép nhau.

- Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ

Các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng hoàn toàn bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. Điều này được thể hiện ở chỗ khi đàm phán để ký kết hợp đồng thì các bên đều  sẽ có quyền đưa ra những yêu cầu, ràng buộc của mình và đều có quyền chấp nhận hay không chấp nhận các yêu cầu, ràng buộc của bên kia, không bên nào có quyền ép buộc bên nào. Quan hệ hợp đồng sẽ được hình thành khi các bên thống nhất ý chí với nhau về các nội dung điều khoản trong hợp đồng.

Khi quan hệ hợp đồng đã hình thành, các bên sẽ có nghĩa vụ thực hiện đúng những điều khoản, nội dung của hợp đồng mà các bên đều đã cam kết (về đối tượng, số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa, dịch vụ; thời hạn thực hiện hợp đồng; thời hạn và phương thức thanh toán cùng các nội dung thỏa thuận khác;…). Bên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo những thỏa thuận trong hợp đồng đều phải chịu trách nhiệm trước bên kia.

- Nguyên tắc không làm trái pháp luật

Trong quan hệ hợp đồng các bên tham gia ký kết hợp đồng điện tử có quyền tự do thoả thuận các điều khoản của hợp đồng. Pháp luật hợp đồng tôn trọng ý chí của các bên. Tuy nhiên, ý chí của các bên tham gia giao kết chỉ được tôn trọng nếu ý chí đó là phù hợp với quy định của pháp luật. Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng, mà pháp luật có những quy định khác nhau trong việc thực hiện hợp đồng.

Nói cách khách là khi các bên có quyền tự do thoả thuận nhưng mọi thoả thuận ghi trong hợp đồng không được vi phạm những điều cấm của pháp luật mà phải phù hợp với các quy định của pháp luật.

- Các bên tham gia giao kết có quyền thỏa thuận về việc sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết và thực hiện hợp đồng.

- Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của Luật giao dịch điện tử và pháp luật về hợp đồng.

- Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thoả thuận về các yêu cầu kỹ thuật, chứng thực, các điều kiện, quy trình bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến nội dung của hợp đồng điện tử đó.

4.Đặc điểm của hợp đồng điện tử

-Thể hiện bằng các thông điệp dữ liệu: Đặc điểm nổi bật nhất của hợp đồng là hình thức thể hiện. Một hợp đồng điện tử bao gồm các thông điệp dữ liệu. Các thiết bị điện tử như máy tính, điện thoại di động ... bắt buộc phải có để xem được nội dung của hợp đồng điện tử. Hình thức của hợp đồng điện tử hoàn toàn khác với hình thức thông thường nhất của hợp đồng giấy truyền thống 
. Chính đặc điểm này của hợp đồng đã tạo cảm giác hợp đồng điện tử là “ảo”, không dễ dàng “nắm bắt”.

-Được tạo lập, truyền đi và lưu trữ dưới dạng điện tử: Hợp đồng điện tử được giao kết dưới dạng điện tử nhờ sự tiến bộ của  công nghệ hiện đại như công nghệ điện tử, công nghệ số, từ tính, quang học, mạng viễn thông không dây, Internet, v.v. Việc sử dụng các phương tiện truyền thông và mạng viễn thông giúp cho việc ký kết hợp đồng trở nên thuận tiện hơn, 
 chính xác hơn và nhanh hơn so với các phương thức truyền thống. các mô hình bán lẻ.

-Phạm vi ký kết rộng: Hợp đồng điện tử được ký kết thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các yếu tố này mở rộng phạm vi ký kết của hợp đồng điện tử ra toàn thế giới. Đặc biệt, việc sử dụng hợp đồng điện tử. Bằng cách sử dụng Internet trong bối cảnh giao kết hợp đồng, các bên ký kết có thể ký kết hợp đồng từ bất kỳ nơi nào trên thế giới.

- Khó khăn trong kỹ thuật: Bên cạnh sự thuận tiện và tiết kiệm chi phí khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng viễn thông để ký kết hợp đồng, những yếu tố này dẫn đến những khó khăn ban đầu khi sử dụng, vì hợp đồng điện tử đòi hỏi phải có kiến ​​thức và kỹ năng nhất định trong giao dịch với các phương tiện điện tử.

- Luật hiện hành chưa hệ thống và chi tiết: luật truyền thống chưa đề cập đến các vấn đề như thông điệp dữ liệu, trao đổi dữ liệu điện tử, chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử, phòng ngừa và xử lý chữ ký điện tử, xử lý gian lận, lừa đảo, giả mạo chữ ký điện tử, vv Vì hợp đồng điện tử vừa là một lĩnh vực còn mới đối với các bên liên quan cũng như đối với các cơ quan quản lý nên chưa thể có một hệ thống hoàn chỉnh để giải quyết triệt để các vấn đề phát sinh.

5. Giao dịch điện tử trong cơ quan nhà nước

Có ba loại hình giao dịch cơ bản của cơ quan nhà nước: Giao dịch điện tử trong nội bộ cơ quan nhà nước, giao dịch điện tử giữa các cơ quan nhà nước với nhau,giao dịch điện tử giữa cơ quan nhà nước với cơ quan, tổ chức, cá nhân.

-Nguyên tắc tiến hành giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước được quy định tại điều 40 Luật Giao dịch điện tử 2005

1. Các nguyên tắc quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 5 của Luật này.

2. Việc giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước phải phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ động thực hiện từng phần hoặc toàn bộ giao dịch trong nội bộ cơ quan hoặc với cơ quan khác của Nhà nước bằng phương tiện điện tử.

4. Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và tình hình cụ thể, cơ quan nhà nước xác định một lộ trình hợp lý sử dụng phương tiện điện tử trong các loại hình giao dịch quy định tại Điều 39 của Luật này.

5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn phương thức giao dịch với cơ quan nhà nước nếu cơ quan nhà nước đó đồng thời chấp nhận giao dịch theo phương thức truyền thống và phương tiện điện tử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

6. Khi tiến hành giao dịch điện tử, cơ quan nhà nước phải quy định cụ thể về:

a) Định dạng, biểu mẫu của thông điệp dữ liệu;

b) Loại chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử trong trường hợp giao dịch điện tử cần có chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử;

c) Các quy trình bảo đảm tính toàn vẹn, an toàn và bí mật của giao dịch điện tử.

7. Việc cung cấp dịch vụ công của cơ quan nhà nước dưới hình thức điện tử được xác lập trên cơ sở quy định của cơ quan đó nhưng không được trái với quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Từ đó có thể thấy được các nguyên tắc tiến hành giao dịch của cơ quan nhà nước được quy định rất rõ ràng trong Luật giao dịch điện tử 2005.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ