Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
Pháp luật về tài chính doanh nghiệp điều chỉnh các quan hệ về cấu trúc vốn, phương thức huy động vốn và vấn đề phân bổ lợi nhuận. Do vậy, trong phần này chúng tôi tập trung phân tích các vấn đề pháp lý về tài chính doanh nghiệp trong công ty cổ phần.
2. Cấu trúc vốn
Công ty cổ phần có cấu trúc vốn bao gồm vốn cổ phần (capital stock) và vốn vay (debts). Vốn vay bao gồm vốn hình thành từ phát hành trái phiếu, vay ngân hàng, các khoản tín dụng thương mại… Trong đó, phát hành trái phiếu là kênh huy động vốn hiệu quả được các doanh nghiệp ở Hoa Kỳ ưa chuộng và được nhà đầu tư quan tâm. Vốn cổ phần được hình thành từ hoạt động phát hành cổ phần.
2.1 Trái phiếu
Trái phiếu: Trái phiếu là một công cụ nợ được phát hành bởi doanh nghiệp hoặc chính quyền xác nhận rằng doanh nghiệp hoặc chính quyền nợ một khoản tiền nhất định từ nhà đầu tư và tổ chức phát hành có nghĩa vụ trả nợ cùng với lãi sau một thời hạn nhất định (maturity date). Trái phiếu còn được gọi là chứng khoán có thu nhập cố định vì nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư không phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp. Khi tổ chức phát hành bị giải thể hoặc phá sản, người sở hữu trái phiếu sẽ được ưu tiên thanh toán trước cổ đông. Các nhà làm luật Hoa Kỳ quan niệm trái phiếu là quan hệ hợp đồng vay nợ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư. Vì vậy, trong lĩnh vực trái phiếu doanh nghiệp, nguồn luật điều chỉnh quan hệ trái phiếu giữa doanh nghiệp phát hành với nhà đầu tư chủ yếu từ án lệ. Năm 1939, Nghị viện Hoa Kỳ ban hành Luật hợp đồng vay tín thác. Theo Luật này, hợp đồng vay giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư trái phiếu được giao kết giữa tổ chức phát hành và tổ chức tín thác. Tổ chức tín thác là người đại diện của tất cả những người sở hữu trái phiếu. Nghĩa vụ truyền thống của tổ chức tín thác là: phân phối lãi, vốn gốc, duy trì danh sách nhà đầu tư, giám sát việc thực hiện các cam kết trong hợp đồng vay, nếu khoản vay có bảo đảm thì quản lý tài sản bảo đảm118. Đầu tư vào trái phiếu được coi là đầu tư mạo hiểm bởi vì rõ ràng nhà đầu tư khó mà có thể đoán biết được các rủi ro có thể xảy ra trong tương lại. Ngoài rủi ro khách quan, còn có thể là rủi ro phát sinh từ chính hành vi của tổ chức phát hành. Vì vậy, trong thực tiễn, hợp đồng vay giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư trái phiếu thường có các cam kết ngăn ngừa rủi ro sự kiện. Cam kết ngăn ngừa rủi ro sự kiện được chia làm hai loại là cam kết chủ động và cam kết thụ động. Cam kết chủ động thường mang tính mệnh lệnh hành chính, ví dụ nghĩa vụ báo cáo định kỳ của con nợ. Cam kết thụ động thường là các điều khoản hạn chế vay, hạn chế sử dụng tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ khác119, hạn chế chia cổ tức và thanh toán cho cổ đông, hạn chế sáp nhập hoặc bán tài sản, hạn chế đầu tư… Tổ chức phát hành có nghĩa vụ tuân thủ các cam kết này và có nghĩa vụ báo cáo việc tuân thủ các cam kết này theo quy định của Luật hợp đồng vay tín thác năm 1939 của Hoa Kỳ. Tòa án Hoa Kỳ công nhận hiệu lực của các cam kết hợp pháp, không thực hiện đúng cam kết được coi là vi phạm hợp đồng.
Tổ chức phát hành có nghĩa vụ thiện chí trung thực và vì lợi ích của chủ sở hữu trái phiếu nhưng chỉ giới hạn trong nghĩa vụ thông báo và nghĩa vụ tuân thủ nghiêm chỉnh hợp đồng vay. Vì xuất phát từ quan điểm quan hệ giữa tổ chức phát hành và trái chủ là quan hệ hợp đồng. Do vậy, hợp đồng là công cụ chủ yếu để trái chủ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cho đến nay, các Tòa án Hoa Kỳ chưa công nhận nghĩa vụ thụ thác của người quản lý công ty đối với trái chủ.
2.2 Cổ phần
Cổ phần: Cổ phần ghi nhận quyền của cổ đông trong công ty cổ phần. Cổ phần được chia thành cổ phần phổ thông (common stock) và cổ phần ưu đãi (preferred stock). Cổ phần phổ thông không mang cho người sở hữu đặc quyền, đặc lợi nào so với người sở hữu cổ phần khác. Cổ phần phổ thông trao cho cổ đông sở hữu nó ba quyền cơ bản: quyền biểu quyết, quyền được hưởng cổ tức và quyền được nhận lại tài sản từ công ty khi công ty chấm dứt hoạt động. Quyền biểu quyết của cổ đông được thực hiện thông qua họp Đại hội đồng cổ đông để biểu quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị, thông qua những thay đổi căn bản của công ty. Quyền hưởng cổ tức là quyền của cổ đông được phân chia lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, việc chi trả cổ tức không phải là nghĩa vụ bắt buộc của công ty. Trong nhiều trường hợp công ty không có quyền trả cổ tức cho cổ đông. Nhìn chung, công ty không có nghĩa vụ bảo đảm rằng cổ tức sẽ được chi trả. Quyền nhận lại tài sản từ công ty khi công ty chấm dứt hoạt động được hiểu là khi công ty bị tuyên bố phá sản hoặc bị thanh lý, tài sản còn lại của công ty sau khi đã hoàn thành tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ sẽ được phân chia cho cổ đông.
Cổ phần ưu đãi dành cho người sở hữu nó những đặc quyền, đặc lợi hơn so với những cổ đông phổ thông. Người sở hữu cổ phần ưu đãi cũng có các quyền khác như cổ đông phổ thông nhưng thường có một số đặc quyền, đặc lợi hơn so với cổ đông phổ thông và có thể có hoặc không có quyền biểu quyết. Cổ phần ưu đãi cổ tức dành cho người sở hữu quyền hưởng cổ tức ở mức cố định và được trả trước khi cổ tức được phân chia cho cổ đông phổ thông. Cổ phần ưu đãi cổ tức bao gồm cổ phần ưu đãi cộng dồn (cumulative preferred stock) và cổ phần ưu đãi không cộng dồn (non-cumulative preferred stock). Cổ phần ưu đãi cộng dồn là cổ phần ưu đãi cổ tức mà cổ tức chưa được trả trong năm tài chính trước sẽ được cộng dồn vào năm tài chính sau trước khi cổ tức được chia cho cổ đông phổ thông. Cổ phần ưu đãi không cộng dồn là cổ phần ưu đãi cổ tức mà cổ tức chỉ được chi trả khi được tuyên bố bởi Hội đồng quản trị. Và như vậy, cổ tức không được công bố chi trả trong năm tài chính này sẽ không được cộng dồn sang năm tài chính sau. Cổ phần ưu đãi dự phần (participating preferred stock) là cổ phần ưu đãi mang lại cho cổ đông quyền được hưởng cổ tức ưu đãi và cổ tức bổ sung sau khi cổ tức đã được thanh toán cho cổ đông phổ thông. Cổ phần chuyển đổi (convertibles) trao cho người sở hữu nó quyền được chuyển đổi thành một lượng cổ phần nhất định trong công ty phát hành hoặc công ty khác khi có những điều kiện cụ thể. Ngoài ra còn có những cổ phần ưu đãi khác như cổ phần ưu đãi hoàn lại…
Theo quy định của pháp luật hiện hành của nhiều bang, khi công ty phát hành cổ phần cho cổ đông thì ngược lại cổ đông phải đền bù cho công ty bằng bất kỳ tài sản hữu hình hay vô hình hoặc lợi ích nào đó cho công ty bao gồm tiền mặt, hối phiếu, dịch vụ được thực hiện, hợp đồng dịch vụ hoặc chứng khoán công ty120. Tuy nhiên, trước đây trong các án lệ, các nghĩa vụ chưa thực hiện (excutory promises) không được sử dụng để thanh toán cho cổ phần được phát hành. Vì vậy, nhà đầu tư không được sử dụng hối phiếu không có bảo đảm (unsecured promissory notes) để mua cổ phần. Tuy nhiên, hối phiếu có bảo đảm (secured promissory notes) có thể được sử dụng để thanh toán cho cổ phần và khi đó tài sản bảo được coi là tài sản mà công ty thực sự chiếm hữu121.
Về nguyên tắc chung, cổ phần phải được bán cho nhà đầu tư với mức giá không thấp hơn mệnh giá (par value). Trong trường hợp, công ty bán cho cổ đông cổ phần với mức giá thấp hơn mệnh giá (watered stock). Trong trường hợp này, nếu như công ty phá sản, chủ nợ có quyền truy đòi cổ đông mua cổ phần dưới mệnh giá phần chênh lệch giữa mệnh giá với giá mà cổ đông đã thực trả. Hiện nay, phần lớn các Tòa án áp dụng học thuyết thông tin sai lệch (mispresentation theory), chỉ các chủ nợ cấp khoản nợ cho công ty sau thời điểm cổ phần được phát hành mới có quyền truy đòi trách nhiệm của cổ đông. Các Tòa án còn lại áp dụng học thuyết quỹ của các chủ nợ (trust fund theory). Theo học thuyết này, công ty là quỹ của tất cả các chủ nợ nên bất kỳ chủ nợ nào cũng có quyền truy đòi. Ngày nay, nhiều Luật của các bang cũng pháp điển hóa học thuyết này.
Hiện nay, tất cả các bang đều cho phép các công ty được phát hành cổ phần không mệnh giá (no-par value shares). Tuy nhiên, hầu hết các bang đều quy định Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông phải xác định mức giá mà công ty nhận được từ nhà đầu tư khi phát hành cổ phần không mệnh giá. Nếu không tuân thủ quy định này, việc phát hành cổ phần không mệnh giá sẽ thuộc trường hợp phát hành cổ phần dưới mệnh giá. Hiện nay, một số bang lại quy định rằng cổ phần có thể được phát hành ở bất kỳ giá nào theo quyết định có tính chất thiện chí, trung thực của Hội đồng quản trị.
Ngoài các quyền đã được phân tích ở trên, cổ phần còn dành cho cổ đông những quyền tài chính dưới đây:
Quyền mua cổ phần (preemptive rights): Cổ đông hiện hữu có quyền mua cổ phần được phát hành mới của công ty theo tỷ lệ sở hữu cổ phần hiện hữu của cổ đông. Phần lớn pháp luật của các bang đi theo hướng quyền mua cổ phần không tồn tại đương nhiên trừ khi được Điều lệ (giấy chứng nhận thành lập) của công ty quy định. Ngoài ra, trong trường hợp công ty chia thành nhiều loại cổ phần thì quyền mua cổ phần chỉ áp dụng đối với cổ phần cùng loại. “Hầu hết các Tòa án kết luận rằng quyền mua cổ phần chỉ áp dụng đối với cổ phần được phát hành bằng tiền mặt, mà không áp dụng cho cổ phần được phát hành bằng tài sản khác hoặc dịch vụ cá nhân. Lý do: Điều quan trọng là chấp nhận công ty tiếp nhận những tài sản hoặc dịch vụ đặc biệt bằng cách phát hành cổ phần hơn là bảo vệ cổ đông nhỏ trước sự pha loãng”122. Quyền mua cổ phần của cổ đông được bảo đảm bằng các biện pháp chế tài mà cổ đông có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng. Biện pháp chế tài thứ nhất là buộc công ty phải phát hành cổ phần thêm cho cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện hữu (specific performance). Biện pháp chế tài thứ hai là buộc bồi thường thiệt hại (damages) trên cơ sở chênh lệch giữa giá đăng ký mua cổ phần phát hành thêm với giá thị trường của cổ phần này. Biện pháp chế tài thứ ba là Tòa án có thể buộc công ty chấm dứt phát hành thêm cổ phần vi phạm quyền mua cổ phần.
Quyền yêu cầu mua lại cổ phần (appraisal rights): Phần lớn pháp luật của các bang đều thừa nhận quyền của cổ đông phản đối việc sáp nhập, hợp nhất hoặc những thay đổi căn bản của công ty, có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình theo giá thị trường hoặc theo giá công bằng. Điều 1300(a) Bộ luật công ty cổ phần của California có quy định như sau: “Nếu việc tổ chức lại công ty theo khoản (a) và (b) hoặc (e) hoặc (f) của Điều 1201 phải có sự thông qua của các cổ phần hiện hữu, mỗi cổ đông có quyền biểu quyết đối với giao dịch này và mỗi cổ đông của công ty con trong giao dịch sáp nhập giữa công ty mẹ - công ty con (short- form merger) có quyền, tuân theo quy định của chương này, yêu cầu công ty mà cổ đông đang nắm giữ cổ phần mua lại cổ phần theo giá thị trường và thanh toán bằng tiền mặt…”. Luật của bang Delaware áp dụng “giá công bằng” (Điều 262 (a) Luật chung về công ty cổ phần của bang Delaware).
Để thực hiện được quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, thủ tục mua lại cổ phần được thực hiện như sau:
Bước một, trước khi biểu quyết được tiến hành, cổ đông phải thông báo bằng văn bản đến công ty về ý định bán cổ phần lại cho công ty nếu như giao dịch tổ chức lại có hiệu lực và thể hiện quan điểm không ủng hộ giao dịch tổ chức lại.
Bước hai, nếu như giao dịch tổ chức lại được chấp thuận bởi Đại hội đồng cổ đông, trong thời hạn 10 ngày, kể từ thời điểm giao dịch tổ chức lại được thông qua, công ty phải thông báo bằng văn bản cho cổ đông yêu cầu mua lại cổ phần với các nội dung:
(1) Cung cấp mẫu văn bản yêu cầu thanh toán; (2) Xác định địa điểm mà văn bản yêu cầu thanh toán phải được gửi tới, địa điểm và thời điểm mà cổ phiếu phải được nộp lại; (3) Thông báo cho cổ đông biết về mức hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phần sau khi văn bản yêu cầu thanh toán được tiếp nhận; (4) Xác định ngày thanh toán nhưng không ít hơn 40 ngày và không quá 60 ngày kể từ ngày thông báo gửi đến cổ đông được gửi đi; (5) Xác định giá công bằng; (6) Kèm theo là các quy định pháp luật liên quan123.
Bước ba, sau khi nhận được thông báo từ công ty, cổ đông phải gửi yêu cầu thanh toán và nộp lại cổ phiếu cho công ty.
Bước bốn, ngay sau khi giao dịch tổ chức lại được thông qua hoặc ngay sau khi nhận được yêu cầu thanh toán từ cổ đông, công ty phải thanh toán tiền (bao gồm giá công bằng của cổ phần và các khoản lợi ích cộng dồn) cho cổ đông tuân thủ theo đúng thủ tục yêu cầu mua lại cổ phần.
Bước năm, trong trường hợp cổ đông và công ty không thống nhất về giá công bằng thì có quyền yêu cầu Tòa án xác định. Chi phí xác định giá công bằng tại Tòa án (trừ phí luật sư, phí thuê chuyên gia) do công ty chịu, trừ trường hợp Tòa án xét thấy các cổ đông không thiện chí, trung thực. Ngược lại nếu Tòa án xét thấy công ty không thiện chí, trung thực, Tòa án cũng có quyền buộc công ty phải gánh chịu cả chi phí luật sư, chi phí thuê chuyên gia.
3. Thủ tục phát hành chứng khoán công ty:
Huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán là kênh huy động vốn hiệu quả được các doanh nghiệp Hoa Kỳ ưa chuộng.
Pháp luật Hoa Kỳ phân định phát hành chứng khoán theo hai nhóm là phát hành chứng khoán phải đăng ký và phát hành chứng khoán không phải đăng ký.
Trường hợp phát hành chứng khoán phải đăng ký (phương thức phát hành chứng khoán ra công chúng) không được định nghĩa rõ ràng trong Luật chứng khoán năm 1933. Tuy nhiên, dựa vào Điều 5 của Luật chứng khoán năm 1933 có thể suy ra rằng nếu chứng khoán không thuộc trường hợp không phải đăng ký khi phát hành thì được coi là trường hợp phải đăng ký khi phát hành. Hoa Kỳ áp dụng mô hình công bố thông tin, theo đó, tổ chức phát hành phải nộp bản đăng ký phát hành (registration statement) với Ủy ban Chứng khoán (Securities and Exchange Commission - SEC) và phải cung cấp bản cáo bạch (prospectus) cho tất cả các nhà đầu tư. Bản đăng ký phát hành phải có các nội dung sau: (1) Chứng khoán dự kiến chào bán, bao gồm cả mối quan hệ giữa các chứng khoán này với các chứng khoán khác của người đăng ký; (2) Tình hình tài sản và hoạt động kinh doanh của công ty (bao gồm báo cáo tài chính đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập); (3) Cơ chế quản lý của công ty, bao gồm thù lao quản lý, quyền chọn cổ phiếu, lương hưu và các khoản lợi ích khác. Mọi lợi ích của thành viên Hội đồng quản trị hoặc người điều hành công ty trong các giao dịch lớn với công ty phải được công bố; (4) Kế hoạch sử dụng phần thặng dư có được từ đợt bán chứng khoán; (5) Các vụ kiện tụng và các rủi ro đặc biệt124. Trước khi nộp hồ sơ đăng ký, tổ chức phát hành không được bán hoặc chào bán chứng khoán cho bất kỳ nhà đầu tư nào. Trong thời gian chờ đợi, là khoảng thời gian từ khi nộp hồ sơ cho đến khi đăng ký có hiệu lực, tổ chức phát hành không có quyền bán chứng khoán mà chỉ được chào bán chứng khoán. Tuy nhiên, hình thức chào bán chứng khoán cũng bị giới hạn.
Sau hai mươi ngày, kể từ thời điểm nộp hồ sơ đăng ký, hoặc một thời hạn ngắn hơn theo quyết định của SEC, đăng ký phát hành chứng khoán ra công chúng đương nhiên có hiệu lực trừ trường hợp SEC không chấp nhận thông tin được cung cấp trong hồ sơ. Kể từ thời điểm đăng ký có hiệu lực, tổ chức phát hành được quyền chào bán và bán chứng khoán.
Năm 2005, SEC ban hành quy chế sửa đổi quy trình chào bán chứng khoán, theo đó tổ chức phát hành có uy tín (well-known seasoned issuers) được áp dụng thủ tục tự đăng ký phát hành (self registration statement). Theo quy định này, việc đăng ký có hiệu lực ngay từ thời điểm hồ sơ được nộp cho SEC mà không cần phải chờ 20 ngày để SEC xem xét và chấp thuận hồ sơ. Theo Quy chế 405 Luật chứng khoán125, tổ chức phát hành có uy tín là tổ chức đáp ứng yêu cầu về Mẫu S-3 hoặc F-3126 và có một trong những tiêu chí sau: (1) Trong thời hạn 60 ngày tính từ ngày xem xét, có tổng giá trị thị trường của cổ phần phổ thông có quyền biểu quyết và không có quyền biểu quyết trên toàn cầu được sở hữu bởi các chủ thể không liên kết ít nhất 700 tỷ USD; (2) Trong phạm vi 60 ngày tính từ ngày xem xét, trong 03 năm gần nhất, ngoài cổ phần, đã phát hành ít nhất 01 tỷ giá trị gốc cộng dồn của chứng khoán không chuyển đổi, chào bán để thu tiền mặt mà không phải là trao đổi và đã được đăng ký theo Luật chứng khoán. Ngoài ra, tổ chức phát hành này không thuộc trường hợp không đủ điều kiện phát hành (ineligible issuer), ví dụ không thuộc trường hợp phạm tội theo Điều 15 Luật giao dịch chứng khoán hoặc không vi phạm các quy định về chống lừa đảo trong các Luật chứng khoán Liên bang...
Trường hợp phát hành chứng khoán không phải đăng ký: Pháp luật Hoa Kỳ chia thành chứng khoán không phải đăng ký và giao dịch phát hành chứng khoán không phải đăng ký.
Chứng khoán phát hành không phải đăng ký với SEC bao gồm: (i) Chứng khoán Chính phủ; (ii) Chứng khoán của các ngân hàng và các định chế tài chính (được quản lý bởi các cơ quan quản lý nhà nước về ngân hàng); (iii) Các giấy tờ có giá ngắn hạn như các công cụ chuyển nhượng (negotiable instruments) mà thời hạn đáo hạn không quá 09 tháng; (iv) Chứng khoán của các tổ chức từ thiện, các cơ sở giáo dục; (v) Chứng khoán được phát hành bởi các nhà vận tải công cộng (các công ty xe lửa và vận tải); (vi) Bất kỳ hợp đồng bảo hiểm, bảo hiểm nhân thọ hoặc hợp đồng đầu tư trả tiền định kỳ phát hành bởi các công ty bảo hiểm do bang quản lý; (vii) Chứng khoán được phát hành trong giao dịch tổ chức lại doanh nghiệp, theo đó, chứng khoán của một bên được phát hành để hoán đổi với chứng khoán của bên còn lại hoặc trong quá trình phá sản; (viii) Chứng khoán được phát hành trong trường hợp chia, tách cổ phần.
Giao dịch phát hành chứng khoán không phải đăng ký: Chứng khoán phát hành không thuộc trường hợp được miễn trừ đăng ký nhưng tính chất của giao dịch làm cho giao dịch phát hành không phải đăng ký. Các giao dịch phát hành chứng khoán không phải đăng ký bao gồm:
Chào bán theo quy chế A: Quy chế này được đưa nhằm đơn giản hóa thủ tục chào bán cho tổ chức phát hành là các công ty nhỏ (doanh thu hàng năm ít hơn 25 triệu USD). Theo quy chế này, tổ chức phát hành chào bán không quá 5 triệu USD trong vòng 12 tháng được miễn trừ đăng ký.
Chào bán theo Điều 504 Quy chế D: Công ty nhỏ và không phải là công ty đầu tư (không là công ty có hoạt động chính là đầu tư hoặc kinh doanh chứng khoán) chào bán không quá 01 triệu USD trong vòng 12 tháng được miễn đăng ký.
Chào bán riêng lẻ theo Điều 505 Quy chế D: Trường hợp đợt chào bán chứng khoán mà thỏa mãn các điều kiện dưới đây thì không phải đăng ký phát hành: (1) Chào bán không quá 5 triệu USD trong thời hạn 12 tháng; (2) Chào bán cho không quá 35 nhà đầu tư không chuyên; (3) Không được quảng cáo hoặc chào mời rộng rãi ra.
Chào bán riêng lẻ theo Điều 506 Quy chế D với đầy đủ các tiêu chí sau:
(1) Chào bán chứng khoán cho dưới 35 nhà đầu tư không chuyên nhưng không giới hạn số lượng nhà đầu tư chuyên nghiệp. Nhà đầu tư chuyên nghiệp được liệt kê cụ thể tại Điều 501 của Quy chế D như: ngân hàng, tổ chức tiết kiệm và các định chế tài chính tương tự, nhà tự doanh chứng khoán, nhà môi giới chứng khoán, công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, công ty phát triển kinh doanh tư nhân… và pháp nhân mà toàn bộ cổ đông là nhà đầu tư được chính thức công nhận. Cá nhân cũng có thể được coi là nhà đầu tư được chính thức công nhận nếu là: Thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc hoặc thành viên hợp danh của tổ chức phát hành; cá nhân có thu nhập cá nhân ròng hoặc thu nhập chung với vợ hoặc chồng tại thời điểm mua chứng khoán là trên 1 triệu USD Hoa Kỳ; cá nhân có thu nhập cá nhân hàng năm trên 200.000 USD Hoa Kỳ trong hai năm gần nhất hoặc có thu nhập chung cùng vợ hoặc chồng hàng năm trên 300.000 USD Hoa Kỳ trong hai năm gần nhất và có triển vọng đạt được mức thu nhập trên trong năm hiện tại;
(2) Nhà đầu tư không chuyên phải hoặc tổ chức phát hành phải tin tưởng một cách chính đáng rằng nhà đầu tư không chuyên có kiến thức và đủ kinh nghiệm về vấn đề tài chính và kinh doanh để có khả năng phân tích được những lợi ích và rủi ro của việc đầu tư này. Điều đó có nghĩa rằng nhà đầu tư không chuyên cũng phải là nhà đầu tư có kinh nghiệm (sophisticated investors).
(3) Thời hạn phát hành là 12 tháng và mỗi đợt phát hành phải cách nhau 12 tháng trừ chương trình phát hành cổ phiếu cho nhân viên127;
Tháng 4/2012, Nghị viện Hoa Kỳ đã thông qua Luật khuyến khích doanh nghiệp khởi nghiệp (Jumpstart Our Business Startups Act - JOBS)128. Mục tiêu của Luật này là giảm thiểu các yêu cầu pháp lý để giúp các doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường vốn một cách thuận lợi. Điều 201(1)(1) của Luật JOBS đã buộc SEC phải bãi bỏ các quy định cấm sử dụng quảng cáo hoặc chào bán rộng rãi trong trường hợp phát hành chứng khoán riêng lẻ theo Điều 506 của Quy chế D miễn rằng chứng khoán chỉ được bán cho nhà đầu tư chuyên nghiệp và tổ chức phát hành phải thực hiện các bước hợp lý nhằm bảo đảm rằng tất cả những người mua đều là nhà đầu tư chuyên nghiệp.
Nhà đầu tư không được bán lại chứng khoán vừa mua từ đợt phát hành riêng lẻ trừ khi đăng ký theo thủ tục luật định hoặc thuộc trường hợp ngoại lệ129 (chứng khoán bị hạn chế chuyển nhượng). Như vậy, trong trường hợp muốn bán lại chứng khoán này, nhà đầu tư phải đăng ký với SEC. Quy tắc 144 và 144A đã đưa ra các trường hợp ngoại lệ. Ví dụ Quy tắc 144 quy định người sở hữu chứng khoán bị hạn chế chuyển nhượng trong thời gian ít nhất 06 tháng có quyền bán lại với điều kiện công ty phát hành thuộc trường hợp phải báo cáo theo quy định của Luật giao dịch chứng khoán năm 1934. Nếu công ty phát hành không thuộc trường hợp phải báo cáo theo quy định của Luật giao dịch chứng khoán năm 1934, nhà đầu tư phải sở hữu chứng khoán trong thời gian ít nhất 01 năm thì mới có quyền bán lại. Quy chế 144A cho phép việc bán lại chứng khoán bị hạn chế chuyển nhượng không cùng loại với chứng khoán được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán quốc gia hoặc hệ thống giao dịch tự động giữa các nhà tự doanh chứng khoán cho nhà đầu tư có tổ chức đạt tiêu chuẩn như ngân hàng, công ty đầu tư sở hữu và đầu tư ít nhất 100 triệu USD Hoa Kỳ vào chứng khoán. Ngoài ra, trong trường hợp này, giao dịch bán lại phải thỏa mãn một số điều kiện khác được quy định trong Quy tắc 144A.
4. Phân chia cổ tức
Mặc dù hưởng cổ tức là quyền của cổ đông nhưng đây không phải là quyền tuyệt đối. Tuy công ty có nguồn thu nhập để chi trả cổ tức, nhưng trong những trường hợp nhất định Hội đồng quản trị có quyền không công bố trả cổ tức, miễn rằng quyết định này ngay tình. Nếu xét thấy quyết định không chi trả cổ tức của Hội đồng quản trị không ngay tình hoặc thuộc trường hợp lạm quyền, cổ đông có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp. Về nguồn tài chính sử dụng để chi trả cổ tức, pháp luật quy định của các bang là khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung đều theo nguyên tắc bảo toàn vốn, cổ tức phải được phân chia từ nguồn thu nhập của công ty chứ không phải từ vốn của công ty.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê
.png)