1. Cơ chế hoạch định và thực thi chính sách thương mại của Hoa Kỳ

1.1. Nghị viện Hoa Kỳ ban hành và giám sát thi hành các luật thương mại

Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Quốc Hội Hoa Kỳ có quyền quản lý ngoại thương và quyết định về thuế nhập khẩu. Tất cả các luật thương mại ở Hoa Kỳ đều do Quốc hội ban hành. Quốc hội có thể ủy quyền cho chính quyền tiến hành các cuộc đàm phán thương mại quốc tế, song tất cả các hiệp định thương mại song phương và đa phương do chính quyền ký kết với các nước đều phải được Quốc hội thông qua mới có hiệu lực thi hành. 

Luật thương mại qui định rõ năm thành viên của Uỷ ban Chính sách và Tài chính (Ways and Means Committee) thuộc Hạ viện và năm thành viên của Uỷ ban Tài chính Thượng viện (Finance Committee) được chỉ định là cố vấn của Quốc hội cho các đoàn đàm phán thương mại quốc tế của chính quyền. Văn phòng Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) – là cơ quan chủ trì đàm phán thương mại quốc tế của chính quyền – có trách nhiệm cung cấp cho các cố vấn này đầy đủ thông tin về mục tiêu và tình hình các cuộc đàm phán thương mại quốc tế của Hoa Kỳ cũng như những khả năng có thể phải điều chỉnh luật pháp hiện hành của Hoa Kỳ để phù hợp với hiệp định sẽ ký kết. 

Quốc hội cũng yêu cầu USTR và Ủy ban thương mại quốc tế (ITC) của Hoa Kỳ gửi các báo cáo hàng năm để Quốc hội nắm được tình hình thực thi các luật và chương trình thương mại. Đáng chú ý là báo cáo hàng năm của USTR với tiêu đề: "Báo cáo đánh giá thương mại quốc về các rào cản ngoại thương" và báo cáo hàng năm của ITC với tiêu đề "Năm thương mại: Hoạt động của chương trình các hiệp định thương mại".

Để đảm bảo các cơ quan chính quyền triển khai đúng các luật thương mại, Quốc hội yêu cầu các cơ quan này phải thường xuyên tham khảo ý kiến Quốc hội và thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để tranh thủ ý kiến của công chúng trước khi trình dự thảo hiệp định hoặc dự thảo luật triển khai. Ngoài ra, Quốc hội có thể điều tiết và kiểm soát việc thực hiện các luật và chương trình thương mại thông qua quyền phân bổ ngân sách của mình cho các cơ quan chính quyền về thương mại.

Do các quyết định về chính sách thương mại có ảnh hưởng sâu rộng đến cả lợi ích trong và nước ngoài nên có nhiều cơ quan chính phủ Hoa Kỳ có vai trò trong hoạch định các chính sách thương mại. 

1.2. Ủy ban chính sách thương mại (TPC)

Uỷ ban chính sách thương mại chịu trách nhiệm chính trong phối hợp chính sách thương mại. TPC bao gồm Trưởng Đại diện thương mại (USTR) là chủ tịch và các thành viên là Bộ trưởng các Bộ Thương mại, Ngoại giao, Nông nghiệp, Tài chính và Lao động. Ngoài ra, đại diện của các cơ quan khác cũng được mời dự họp về chính sách thương mại khi cần thiết. 

- Chức năng cơ bản của TPC là: giúp Tổng thống thực hiện các chức năng của Tổng thống theo các luật thương mại và cố vấn cho USTR thực hiện các chức năng của USTR; giúp Tổng thống và cố vấn cho USTR trong việc xây dựng và thực hiện các mục tiêu chính sách thương mại quốc tế; và cố vấn cho Tổng thống và USTR trong việc phối hợp giữa các mục tiêu chính sách thương mại quốc tế với các lĩnh vực chính sách lớn khác. Khi cần quyết định của Tổng thống về chính sách thương mại, chủ tịch TPC (USTR) sẽ đệ trình lên Tổng thống các khuyến nghị và lời khuyên của TPC. 

Dưới TPC có hai nhóm phối hợp trực thuôc: Nhóm rà soát chính sách thương mại (TPRG) và Uỷ ban tham mưu về chính sách thương mại (TPSC). TPSC bao gồm các quan chức cao cấp của các cơ quan thành viên TPC. TPSC có hơn 60 tiểu ban và nhóm theo lĩnh vực công việc. Các vấn đề không đạt được sự nhất trí trong TPSC hoặc có tầm quan trọng thì sẽ được chuyển sang TPRG để xem xét. TPRG gồm các thành viên cấp thứ trưởng các cơ quan thành viên TPC và phó đại diện USTR. Các vấn đề không đạt được sự nhất trí trong TPRG sẽ được chuyển lên TPC để xem xét. 

1.3. Ủy ban Kinh tế Quốc gia (NEC)

Ủy ban kinh tế quốc gia do Tổng thống làm chủ tịch. Các thành viên khác của NEC gồm Phó Tổng thống, các Bộ trưởng Ngoại giao, Tài chính, Nông nghiệp, Thương mại, Lao động, Bộ phát triển đô thị và nhà ở, Giao thông Vận tải và năng lượng, chủ nhiệm cơ quan bảo vệ môi trường; Giám đốc văn phòng quản lý và Ngân sách, Đại diện thương mại Hoa Kỳ, chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế; cố vấn An ninh Quốc gia và các trợ lý Tổng thống về chính sách kinh tế, chính sách đối nội, chính sách khoa học và công nghệ. Khi các quyết định về chính sách được đưa ra trong cơ chế liên ngành này, USTR sẽ đảm đương trách nhiệm chỉ đạo triển khai thực hiện quyết định đó. 

1.4. Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR)

USTR là đại diện cao cấp tại tất cả các cơ quan mà Tổng thống lập ra để cố vấn cho Tổng thống về các chính sách kinh tế trong đó các vấn đề thương mại quốc tế đóng vai trò chủ đạo. 

USTR tham dự tất cả các hội nghị thượng đỉnh kinh tế và các cuộc họp quốc tế khác mà tại đó thương mại quốc tế là một chủ đề chính. USTR có trách nhiệm lãnh đạo phía Hoa Kỳ tại tất cả các cuộc đàm phán về bất cứ vấn đề gì nằm dưới sự bảo trợ của WTO, Luật cạnh tranh và thương mại Omnibus năm 1988 đã nâng thêm tầm quan trọng của USTR bằng cách phân cấp trách nhiệm thực hiện các hành động theo Điều 301 của Luật này từ Tổng thống sang cho USTR. Tuy nhiên, việc thực hiện này phải tuân theo sự chỉ đạo cụ thể của Tổng thống, nếu có.

Ngoài ra, trách nhiệm chính về thương mại của Bộ thương mại tập trung vào Cơ quan Quản lý thương mại Quốc tế và Cục quản lý xuất khẩu.

- Cơ quan Quản lý Thương mại Quốc tế có trách nhiệm quản lý nhà nước về ngoại thương đối với các mặt hàng phi nông nghiệp, chỉ đạo và điều hành công tác phát triển xuất khẩu và cơ quan xúc tiến thương mại Hoa Kỳ ở nước ngoài, thực thi luật chống bán phá giá và luật thuế chống bù giá, kiểm soát xuất khẩu, hỗ trợ điều chỉnh thương mại cho các công ty.

- Cục quản lý xuất khẩu kiểm soát việc xuất khẩu hàng hóa và công nghệ vì lý do an ninh quốc gia, chính sách đối ngoại... cấp giấy phép xuất khẩu dựa trên các quy chế kiểm soát xuất khẩu. 

2. Cơ chế hoạch định và thực thi chính sách thương mại của Việt Nam

- Đảng đề ra đường lối, chủ trương chính sách về thương mại trong từng thời kỳ để định hướng cho sự phát triển của Nhà nước. Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được thể hiện trong cương lĩnh chính trị của Đảng và được bổ sung, cụ thể hóa trong các nghị quyết đại hội Đảng qua các nhiệm kỳ và các nghị quyết chuyên đề, bao gồm những mặt cơ bản sau: Đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn về để định hướng cho sự phát triển của Nhà nước và xã hội trong từng thời kỳ cụ thể. 

- Quốc hội sẽ ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh thương mại

(i) Thiết lập nghị trình chính sách: đây là giai đoạn phát triển vấn đề, những bức xúc nổi cộm trong đời sống cộng đồng cần được tháo gỡ. 

(ii) Xây dựng và đề xuất phương án chính sách:

Trong giai đoạn xây dựng chính sách, yêu cầu tính chuyên môn rất cao. Các chuyên gia, các nhà tư vấn, các viên chức có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn tương ứng thường than gia vào giai đoạn này. Bên cạnh đó, đóng vai trò chính còn bao gồm các ủy ban chuyên môn của Quốc hội, ban chuyên môn của Đảng, các cơ quan nghiên cứu (Trường đại học, viện nghiên cứu), các bộ liên quan, các tổ chức tư vấn phi chính phủ và đặc biệt là tiểu ban chuẩn bị chính sách, được thành lập trên cơ sở liên ngành và bao gồm các cá nhân có kiến thức có kinh nghiệm, các hệ chính trị...

Có 4 yếu tố chính: tính khoa học, tính tiệm tiến, tính đại diện, tính thể chế (tính chất công cộng) ảnh hưởng đến mọi hoạch định chính sách. 
Chung quy, có thể nói một chính sách cần có cả tính khoa học và tính đại diện cho lợi ích nhân dân. Điều này thể hiện một cách cô đọng tính dân chủ của một chế độ, một chính sách. Chính tính dân chủ dựa trên nền tảng khoa học giúp giải quyết được mâu thuẫn giữa tầm nhìn của lãnh đạo (thiểu số) và lợi ích trước mắt của dân chúng (đa số) trong các quy trình hoạch định chính sách. Do đó, trong quá trình làm chính sách, tham khảo ý kiến rộng rãi phải dựa trên cơ sở khoa học nếu không như thế dân chủ sẽ bị lợi dụng để thực hiện lợi ích cục bộ, thậm chí lợi ích cá nhân.

- Chính phủ tham dự dự thảo pháp luật, chỉ đạo thực thi theo luật mà quốc hội ban hành thông qua các chính sách phát triển cụ thể và các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành pháp luật.

2.1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bộ kế hoạch và đầu tư là một cơ quan của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch, đầu tư phát triển và thống kê, bao gồm: Tham mưu tổng hợp về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công của quốc gia; cơ chế, chính sách quản lý kinh tế; đầu tư trong nước, đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài; khu kinh tế; nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi và viện trợ phi chính phủ nước ngoài; đấu thầu; phát triển doanh nghiệp, kinh tế tập thể, hợp tác xã; thống kê; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật.

2.2. Bộ công thương 

Bộ công thương là cơ quan của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công nghiệp và thương mại, bao gồm các ngành và lĩnh vực: cơ khí, luyện kim, điện, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, dầu khí, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, công nghiệp khai thác mỏ và chế biến khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp chế biến khác, thương mại và thị trường trong nước; xuất nhập khẩu, thương mại điện tử, dịch vụ thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế, quản lý cạnh tranh, áp dụng các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, chống trợ cấp, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. 

3. Nhận xét:

Ở nước ta, Quốc hội và đại biểu Quốc hội có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách công nói chung và trong quá trình hoạch định chính sách công nói riêng. Quốc hội và đại biểu Quốc hội vừa có vai trò hoạch định chính sách, vừa có vai trò giám sát việc thực thi chính sách, pháp luật. Có thể nói rằng, chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi chính sách phụ thuộc rất lớn vào việc thực hiện vai trò hoạch định chính sách của Quốc hội.

Có thể thấy cơ chế hoạch định chính sách của Hoa Kỳ toàn diện và hiệu quả hơn Việt Nam. Điển hình là sự tham gia của các Ủy ban Cố vấn tư nhân là một điểm đáng học hỏi. Ủy ban này mang tính chuyên môn cao, phản ánh được tiếng nói và tình hình thực tiễn tham gia vào hoạt động thương mại. Do đó, có thể là cơ sở để chính sách, pháp luật ban hành được thực tiễn hơn. Việt Nam nên học hỏi cách vận hành cơ chế này.