1 Quy định về hội đồng xét xử trong phiên tòa phúc thẩm

Theo quy định tại điều 254 BLTTHS năm 2015 quy định thì hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán.trong trường hợp cần thiết mà vụ án có tính chất nghiêm trọng thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm

Các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp có đông bị cáo như vụ án TAMECO, vụ Trần Xuân Hoa và đồng bọn ở thành phố Hồ Chí Minh, vụ Nhà hàng 62 Trần Phú thành phố Nha Trang, các vụ Phúc Bồ, Khánh Trắng, Vũ Xuân Trường và đồng bọn ở Hà Nội, khi xét xử phúc thẩm cũng chỉ có ba Thẩm phán. Tuy nhiên, không phải cứ vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, có đông bị cáo thì khi xét xử phúc thẩm Hội đồng xét xử phúc thẩm phải có năm người, mà có những vụ án tuy chỉ có một hoặc hai bị cáo, chứng cứ rõ ràng, mức hình phạt mà điều luật quy định đối với tội mà bị cáo đã phạm tối đa không cao, nhưng vì hành vi phạm tội của bị cáo có liên quan đến nhiều chính sách dân vận của Đảng và Nhà nước ta như: bị cáo là người đứng đầu trong các tổ chức tôn giáo, sự tham gia phiên toà phúc thẩm của Hội thẩm nhân dân là cần thiết hoặc các vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) mà Hội đồng xét xử phúc thẩm không có những Thẩm phán am hiểu nhiều về công tác thanh thiếu niên, học sinh thì việc tham gia của Hội thẩm nhân dân là giáo viên hay là cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là rất cần thiết.

Thẩm phán và Hội thẩm là thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm phải là người theo quy định của pháp luật họ không thuộc diện phải từ chối hoặc bị thay đổi cũng như những vấn đề vướng mắc về việc thay đổi Hội đồng xét xử phúc thẩm tương tự như đối với Hội đồng xét xử sờ thẩm.

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trước khi mở phiên toà do Chánh án Toà án quyết định. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tại phiên toà do Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét việc thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định theo đa số. Việc cử thành viên mới của Hội đồng xét xử phúc thẩm do Chánh án quyết định. Quy định này, thực tiễn xét xử chỉ phù hợp với phiên toà phúc thẩm do Toà án cấp tỉnh tiến hành vì phiên tòa đươc tổ chức tại trụ sở của Toà án cấp tỉnh, còn đối với phiên toà phúc thẩm của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao thì không phù hợp vì phiên toà phúc thẩm của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao hầu hết được tổ chức tại các Toà án cấp tỉnh và hiện nay Toà án nhân dân tối cao có tới ba toà phúc thẩm đặt tại ba miền, nếu mỗi lần cần phải thay đổi Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân tối cao lại phải ra quyết định không chỉ không phù hợp mà như vậy cũng rất khó thực hiện.

2 Những người tham gia phiên toà phúc thẩm

Những người tham gia phiên toà phúc thẩm có thể là người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc là những người khác mà Toà án cấp phúc thẩm triệu tập. Trong đó có những người, nếu họ vắng mặt thì phải hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử. Những người tham gia phiên toà phúc thẩm không đồng nghĩa với những người tham gia tố tụng và lại càng không phải những người đến dự phiên toà phúc thẩm , theo quy định của luật hiện hành thì những người tham gia phiên toà phúc thẩm bao gồm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và những người khác nếu Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy sự có mặt của họ là cần thiết.

Thứ nhất về kiểm sát viên kiểm sát viên phải bắt buộc có mặt tại phiên tòa theo quy định tại điều 350 BLTTHS năm 2015 quy định thì

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa, nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên. Trường hợp Kiểm sát viên không thể có mặt tại phiên tòa thì Kiểm sát viên dự khuyết có mặt tại phiên tòa từ đầu được thay thế để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

- Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.

Việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên toà phúc thẩm do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên quyết định. Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên toà thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hoãn phiên toà. Việc cử Kiểm sát viên khác do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên quyết định.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phúc thẩm không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ. Do đó, nếu vì lý do nào đó mà họ vắng mặt thì phải hoãn phiên toà.

Thứ hai về sự có mặt Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liền quan đến việc kháng cáo, kháng nghị

Toà án cấp phúc thẩm triệu tập những người này đến tham gia phiên toà là bắt buộc, nếu họ không được triệu tập là Toà án cấp phúc thẩm vi phạm thủ tục tố tụng. Nếu đã triệu tập mà họ vắng mặt thì có thể xảy ra hai khả năng: Toà án cấp phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử hoặc phải hoãn phiên toà. Cả hai khả năng này do Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định với điều kiện người vắng mặt có lý do chính đáng. Nếu Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử thì không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị cầo hoặc đương sự vắng mặt; trong những trường hợp khác thì ‘phải hoãn phiên toà.

Người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi cho đương sự được Toà án cấp phúc thẩm triệu tập và việc triệu tập là bắt buộc của Toà án cấp phúc thẩm, nhưng hình thức triệu tập như thế nào vẫn chưa được quy định. Hầu hết các Toà án cấp phúc thẩm chỉ gửi cho Đoàn luật sư nếu họ là luật sư một lịch phiên toà phúc thẩm. Nếu họ không phải là luật sư thì bị cáo hoặc đương sự nhờ họ bào chữa hoặc bảo vệ thông báo cho họ biết ngày xét xử phúc thẩm để họ bố trí tham gia phiên toà Theo quy định tại khoản 1 điều 351 BLHS năm 2015 quy định

"Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị được triệu tập đến phiên tòa thì phải có mặt tại phiên tòa. Nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử giải quyết: Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Trường hợp người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử.Trường hợp phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa;Trường hợp người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị là bị hại, đương sự và người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Trường hợp những người này vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử có thể tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị hại, đương sự; Bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, bị kháng nghị nếu vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án, quyết định không có lợi cho bị cáo. Nếu sự vắng mặt của bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan và sự vắng mặt đó không gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử."

Tại phiên toà phúc thẩm, chỉ có bị cáo kháng cáo hoặc bị kháng cáo, kháng nghị mới được Toà án cấp phúc thẩm triệu tập tham gia phiên toà với tư cách là bị cáo. Trong trường hợp vụ án có đông người tham gia, sau khi xét xử sơ thẩm, một hoặc một số bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thì tuỳ thuộc vào từng trường hợp, nếu xét thấy cần thiết, Toà án cấp phúc thẩm có thể triệu tập họ tham gia phiên toà những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị nếu được Toà án cấp phúc thẩm triệu tập đến phiên toà thì họ tham gia phiên toà với tư cách là người có quyền hoặc nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị chứ không phải với tư cách bị cáo và họ không phải đứng trước vành móng ngựa để trả lời các cầu hỏi của Hội đồng xét xử phúc thẩm, họ cũng không có quyền và nghĩa vụ như bị cáo tại phiên toà phúc thẩm.

Ngoài những người tham gia phiên toà nêu trên, Toà án cấp phúc thẩm có thể triệu tập những người khác đến tham gia phiên toà nếu xét thấy cần thiết.

3 Quy định về hoãn phiên tòa phúc thẩm

Theo quy định tại điều 352 BLTTHS năm 2015 thì hoãn phiên tòa khi

Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp:

- Có một trong những căn cứ quy định tại các điều 52, 53, 349, 350 và 351 của Bộ luật này;

-Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa.

Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.

Ngoài những trường hợp phải hoãn phiên toà nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể hoãn phiên toà trong trường hợp những người được triệu tập tham gia phiên toà vắng mặt có lý do chính đáng. Để khắc phục tình trạng hoãn phiên toà phúc thẩm một cách tuỳ tiện, trước hết cần chấm dứt ngay việc hoãn phiên toà trong các trường hợp “băn khoăn về chứng cứ” hoặc “khó quá không quyết được”. Nếu trong giai đoạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán chủ toạ phiên toà thấy các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ kết tội bị cáo, đã yêu cầu tăng cứu nhưng kết quả tăng cứu không đạt yêu cầu, và tại phiên toà phúc thẩm sau khi xét hỏi cũng không làm rõ hơn được. Hội' đồng xét xử phúc thẩm, quyết định huỷ án sơ thẩm để điều tra lại. Trong trường hợp này Toà án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong việc xét xử sơ thẩm và không nên có tâm lý “án bị huỷ” để rồi đề nghị Toà án cấp phúc thẩm hoãn phiên toà. Tuy nhiên có một số trường hợp, tại phiên toà phúc thẩm những người tham gia tố tụng xuất trình tài liệu chứng cứ mới làm thay đổi cơ bản tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, nhưng các tài liệu chứng cứ mới đó chưa đủ tin cậy và việc xác minh sự thật của các tài liệu đó không phải tốn nhiều thời gian, thì có thể cho phép hoãn phiên toà để xác minh lại.

Ví dụ: Toà án cấp sơ thẩm xác định bị cáo là người đã thành niên, nhưng trong hồ sơ vụ án không có giấy khai sinh của bị cáo; tại phiên toà phúc thẩm, luật sư hoặc thân nhân của bị cáo xuất trình bản sao giấy khai sinh của bị cáo có nội dung là bị cáo chưa đến tuổi thành niên, nhưng bản sao giấy khai sinh không có công chứng. Để làm rõ vấn đề này chỉ cần xác minh mà không cần phải huỷ án sơ thẩm để điều tra lại

Trong trường hợp vụ án phức tạp, Thẩm phán chủ toạ phiên toà đọc không kỹ hồ sơ vụ án, thì nhất thiết không được đưa vụ án ra xét xử mà phải báo cáo lại với lãnh đạo Toà án cấp phúc thẩm để thay đổi lịch xét xử.

Trong số những người vắng mặt có lý do chính đáng, có người xin xét xử vắng mặt, có người xin hoãn phiên toà, có người chỉ nói không đến dự phiên toà phúc thẩm được chứ không nói rõ xin xử vắng mặt hay xin hoãn phiên toà. Vậy trong trường hợp này, Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ giải quyết như thế nào, trường hợp nào thì hoãn phiên toà ? Theo chúng tôi trừ lý do họ nêu ra là không chính đáng, còn lại thì dù họ xin hoãn, xin xử vắng mặt hay chỉ nêu lý do khồng đến dự được phiên toà phúc thẩm thì đều coi sự vắng mặt của họ là có lý do chính đáng, còn việc Hội đồng xét xử phúc thẩm hoãn phiên toà hay tiếp tục xét xử phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể.

Ví dụ: bị đơn dân sự vắng mặt, nhưng người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự kháng cáo yêu cầu tăng bồi thường, Toà án cấp phúc thẩm cũng thấy cần phải tăng bồi thường thì phải hoãn phiên toà.

4 Bổ sung xem xét chứng cứ , tài liệu tại tòa án cấp phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 353 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thì trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của Tòa án bổ sung chứng cứ mới; người đã kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự cũng có quyền bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật. Chứng cứ cũ, chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật mới bổ sung đều phải được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Bản án phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới.

Như vây, sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù các cơ quan tiến hành tố tụng đã thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên mới truy tố ra toà để kết án bị cáo, nhưng như vậy không có nghĩa là việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã bảo đảm đúng theo quy định của Bộ luật hình sự

Thực tiễn xét xử cho thấy do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhiều bản án sơ thẩm đã kết án sai tội danh, áp dụng hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ đối với bị cáo, thậm chí còn xử oan người vô tội... Sau khi xét xử sơ thẩm, vì có chứng cứ mới được bổ sung nên Toà án cấp phúc thẩm đã quyết định lại đúng với quy định của Bộ luật hình sự. Do đó chứng cứ mới được bổ sung trước khi xét xử phúc thẩm và tại phiên toà phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng, nó có tác dụng làm cho việc xét xử của Toà án đúng người đúng tội, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội.

Chứng cứ là toàn bộ tài liệu thực tế được các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để chứng minh có hành vi tội phạm xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do vô ý hay cố ý; có năng lực chịu trách nhiệm hình sự hay không; mục đích hoặc động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Chứng cứ phải là những gì có thật và nó được thu thập theo một trình tự do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Chứng cứ được xác định bằng vật chứng; lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dần sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám định; biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu khác.

Do nguồn chứng cứ rất đa dạng và phong phú, nên việc đánh giá chứng cứ đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải có tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án.

5 Thủ tục phiên tòa phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 354 Bộ luật tố tụng hình sự năm thì phiên toà phúc thẩm cũng tiến hành như phiên toà sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử phải trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung của kháng cáo hoặc kháng nghị.

Sau khi đã thực hiện xong phần thủ tục, Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên bố chuyển sang phần xét hỏi tại phiên toà, nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên trong Hội đồng xét xử phúc thẩm tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và nội dung của kháng cáo kháng nghị.

-Chủ toạ phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.

-Chủ toạ phiên tòa hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.

Trường hợp kiểm sát viên rút toàn bộ kháng nghị mà vụ án không có kháng cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm. Nếu những người kháng cáo cũng rút toàn bộ kháng cáo thì việc xét xử phúc thẩm cũng được đình chỉ. Trường hợp vụ án có nhiều người kháng cáo thì người nào rút toàn bộ kháng cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với người đó và tiếp tục tiến hành xét xử đối với người khác.

Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành hỏi từng người theo thứ tự: Chủ toạ hỏi trước rồi đến các Thẩm phán, Kiểm sát viên, người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Nội dung của việc xét hỏi, trước hết phải làm rõ những vấn đề có kháng cáo hoặc kháng nghị, ngoài ra nếu thấy cần thiết có thể hỏi thêm những vấn đề khác không có kháng cáo kháng nghị. Trong quá trình xét hỏi, để làm rõ từng vấn đề, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể kết hợp việc xét hỏi bị cáo với việc xét hỏi người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị và nhân chứng; kết hợp việc xét hỏi với việc công bố lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, công bố các tài liệu như giám định pháp y, giám định kỹ thuật và các tài liệu khác có liên quan đến việc chứng minh tội phạm.

Việc xét hỏi phải bảo đảm tính khách quan, toàn điện, đầy đủ, tránh phiến diện và phải luôn tôn trọng các quyền của bị cáo và những người tham gia tố tụng tại phiên toà. Thực tiễn xét xử phúc thẩm có không ít trường hợp, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét hỏi thì ít mà chủ yếu giải thích hoặc dùng những lời lẽ có tính chất “áp đảo” khi bị cáo chối tội, gây không khí căng thẳng thiếu dân chủ tại phiên toà.

Sau khi thấy việc xét hỏi đã đầy đủ, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định chấm dứt giai đoạn ,xét hỏi và chuyển sang giai đoạn tranh luận. Giai đoạn này được tiến hành theo thứ tự như sau:

- Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hướng giải quyết vụ án;

- Người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi cho đương sự trình bày luận cứ của mình, bị cáo và người có qụyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị bổ sung. Nếu bị cáo hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị không có người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi cho đương sự thì họ tự bào chữa hoặc trình bày ý kiến của mình về phát biểu của Kiểm sát viên;

- Kiểm sát viên đối đáp với người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi cho đương sự hoặc với bị cáo hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị.

Theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thì người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, nhưng có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.

Nếu qua tranh luận mà xét thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể quyết định trở lại giai đoạn xét hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận, nếu không trở lại giai đoạn xét hỏi và việc đôi đáp đã hết thì Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định kết thúc giai đoạn tranh luận và chuyển sang giai đoạn bị cáo nói lời sau cùng.

Bị cáo nói lời sau cùng là sau khi bị cáo đã nói thì Hội đồng xét-xử phúc thẩm phải nghị án mà không được cho ai phát biểu nữa. Khi bị cáo nói lời sau cùng, Hội đồng xét xử phúc thẩm không được đặt câu hỏi với bị cáo, không được hạn chế thời gian, nhưng có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải quyết định trở lại việc xét hỏi. Nếu không phải trở lại giai đoạn xét hỏi thì Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên bố tạm nghỉ để Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án.

Theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự, thì qua việc nghị án nếu thấy có tình tiết của vụ án chưa được xét hỏi hoặc xét hỏi chưa đầy đủ thì Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định trở lại xét hỏi và tranh luận.

Nếu không phải trở lại giai đoạn xét hỏi và tranh luận thì Hội đồng xét xử phúc thẩm trở lại phòng xử án để tuyên án.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!