1. Tác phẩm phái sinh là gì?

Tại Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.

- Nguyên tắc bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh:

Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có liên quan đến việc bảo hộ tác phẩm gốc, để một tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả thì điều kiện tiên quyết là không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Nhưng như thế nào là không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc? Đây là một vấn đề phức tạp vì ranh giới giữa việc sáng tạo ra tác phẩm phái sinh với việc xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc, ranh giới giữa việc sử dụng tự do tác phẩm với việc xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc… trong nhiều trường hợp là khó xác định. Sau nữa, do sự phát triển của trình độ khoa học và công nghệ, mối quan hệ giữa tác phẩm phái sinh với một số loại hình tác phẩm khác, ví dụ chương trình máy tính đã không được Công ước Berne điều chỉnh, đồng thời pháp luật về quyền tác giả của một số quốc gia (trong đó có Việt Nam) cũng chưa đề cập.

Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Khoản 3 Điều 2 Công ước Berne về bảo vệ tác phẩm văn học đã quy định: “Các tác phẩm dịch, mô phỏng, chuyển nhạc và các chuyển thể khác từ một tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật đều được bảo hộ như các tác phẩm gốc, miễn không phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc”.

Với tư cách là một thành viên của Công ước Berne, pháp luật Việt Nam cũng ghi nhận và bảo vệ quyền tác giả đối vơi tác phẩm phái sinh.

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 (gọi tắt là Luật Sở hữu trí tuệ) quy định:

"Tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn" (khoản 8 Điều 4).

"1. Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được bảo hộ bao gồm: (a) Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; (b) Bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; (c) Tác phẩm báo chí; d) Tác phẩm âm nhạc; (đ) Tác phẩm sân khấu; e) Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự (sau đây gọi chung là tác phẩm điện ảnh); (g) Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng; (h) Tác phẩm nhiếp ảnh; (i) Tác phẩm kiến trúc; k) Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học; (l) Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian; (m) Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

2. Tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ theo quy định tại khoản 1 Điều này nếu không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh" (Điều 14).

2. Điều kiện bảo hộ đối với một tác phẩm phái sinh:

Một tác phẩm phái sinh sẽ được bảo hộ nếu đáp ứng đủ hai điều kiện sau đây:

Một là, tác phẩm phái sinh không làm phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Tác phẩm phái sinh phải được hình thành dựa trên một hoặc một vài tác phẩm gốc đã có từ trước. Những tác phẩm gốc này có thể vẫn còn hoặc đã hết thời hạn bảo hộ quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản. Tác phẩm phái sinh có thể được sáng tạo mà không cần đến sự đồng ý của tác giả sáng tạo tác phẩm gốc nhưng quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh chỉ được bảo hộ khi nó không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Trong nhiều trường hợp, rất khó xác định một hành vi có bị coi là gây phương hại đến quyền tác giả hay không, đặc biệt là đối với những tác phẩm mà tác giả sáng tạo ra tác phẩm gốc đã qua đời.

Hai là, tác phẩm phái sinh được sáng tạo một cách độc lập. Cũng như tất cả các tác phẩm khác, tác phẩm phái sinh muốn được bảo hộ thì phải là kết quả của sự độc lập sáng tạo. Tuy nhiên, sự độc lập sáng tạo này khác với tác phẩm gốc ở chỗ có thể khiến người khác liên tưởng đến tác phẩm gốc khi được tiếp cận với tác phẩm phái sinh. Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh cũng chỉ dừng ở mức bảo hộ về mặt hình thức chứ không bảo vệ nội dung và ý tưởng của tác phẩm.

Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, nhưng việc nghiên cứu các quy định về bảo hộ tác phẩm phái sinh chưa được chú trọng đúng mức ở Việt Nam. Do đó, theo chúng tôi việc nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để bảo hộ tác phẩm phái sinh, góp phần đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tác giả đối với việc bảo hộ tác phẩm phái sinh là cần thiết.

3. Phòng tác là gì ?

Phóng tác là sự mô phỏng theo nội dung của một tác phẩm đã có trước đó, chuyển tác phẩm từ thể loại này sang một thể loại khác nhằm tạo ra một tác phẩm có hình thức thể hiện khác so với hình thức thể hiện của tác phẩm ban đầu.

>> Xem thêm:  Điểm khác biệt giữa quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp ?

Đối với những tác phẩm đã được phóng tác thì thông thường độ dài của các tác phẩm đó sẽ giảm đi đáng kể so với độ dài của tác phẩm ban đầu. Mặt khác, những tác phẩm phóng tác sẽ vẫn là một tác phẩm đến với người đọc như một thế giới nghệ thuật trọn vẹn hơn, nó không chỉ đơn thuần là một bản tóm tắt mà làm mất đi sự hứng thú của độc giả.

Khi phóng tác một tác phẩm cần có sự nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn để có thể đưa ra một tác phẩm ngắn gọn, xúc tích nhưng vẫn đảm bảo có đầy đủ nội dung cốt truyện như tác phẩm ban đầu và tạo sự quan tâm đối với người đọc.

Về mặt lý thuyết thì một tác phẩm khi phóng tác thì sẽ có sự lặp lại cấu trúc, bản chất của tác phẩm nguyên mẫu tuy nhiên sẽ có sự thay đổi về sự sắp xếp các yếu tố, nhân vật tạo nên sự khác biệt so với tác phẩm gốc nhưng vẫn giữ nguyên cốt truyện ban đầu.

4. Mối quan hệ giữa tác phẩm gốc và tác phẩm phóng tác

Giữa tác phẩm gốc và tác phẩm phóng tác có mối quan hệ như sau:

Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh có liên quan đến việc bảo hộ tác phẩm gốc, mối quan hệ này được thể hiện như sau:

Thứ nhất, tác phẩm phái sinh chỉ được hình thành trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã tồn tại. Quyền cho làm tác phẩm phái sinh thuộc nhóm quyền tài sản đối với tác phẩm, quyền này được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 20 Luật SHTT.

Thứ hai, hình thức thể hiện phải khác biệt hoàn toàn hoặc từng phần so với tác phẩm gốc. Pháp luật quyền tác giả không bảo hộ nội dung ý tưởng mà chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng. Mặt khác, tác phẩm phái sinh không phải là bản sao của tác phẩm gốc. Do đó, trong nhiều trường hợp hình thức thể hiện của tác phẩm phái sinh phải khác biệt hoàn toàn hoặc khác biệt từng phần với hình thức thể hiện của tác phẩm gốc.

Thứ ba, tác phẩm phái sinh phải do tác giả tự mình sáng tạo nên mà không sao chép từ những tác phẩm khác hoặc tác phẩm của chính mình, mang dấu ấn sáng tạo của tác giả. Để một tác phẩm phái sinh được bảo hộ thì nó phải mang dấu ấn sáng tạo của tác giả. Tuy nhiên ranh giới giữa tác phẩm phái sinh và xâm phạm quyền tác giả là rất khó nhận biết.

>> Xem thêm:  Công bố tác phẩm là gì ? Khái niệm về công bố tác phẩm hiểu như thế nào ?

Thứ tư, về dấu ấn của tác phẩm gốc trong tác phẩm phái sinh, dấu ấn của tác phẩm gốc phải được thể hiện trong tác phẩm phái sinh, có nghĩa là khi nhận biết tác phẩm phái sinh thì công chúng phải liên tưởng đến tác phẩm gốc, sự liên tưởng này được thể hiện qua nội dung của tác phẩm gốc. Pháp luật quyền tác giả không bảo hộ nội dung của tác phẩm, do đó sự liên tưởng về nội dung giữa tác phẩm phái sinh với tác phẩm gốc không làm mất đi tính nguyên gốc của tác phẩm phái sinh.

5. Quyền của tác giả đối với tác phẩm phóng tác

– Người phóng tác sẽ là tác giả của phần phóng tác và được hưởng quyền tác giả. Việc phóng tác tác phẩm phải được sự đồng ý của tác giả, của chủ sở hữu tác phẩm gốc và phải trả thù lao cho tác giả, cho chủ sở hữu tác phẩm. Trong tác phẩm phóng tác phải ghi tên của tác giả và tên bản gốc tác phẩm đó.

– Tác phẩm phóng tác thuộc đối tượng bảo hộ quyền tác giả, theo đó tác giả có quyền về nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm do mình phóng tác.

Quyền nhân thân theo Luật sở hữu trí tuệ bao gồm: Quyền đặt tên cho tác phẩm; có quyền đứng tên thật hoặc là bút danh trên tác phẩm; quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác được công bố tác phẩm đó; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

Quyền tài sản đối với tác phẩm phóng tác bao gồm: Quyền được làm tác phẩm phái sinh; quyền biểu diễn tác phẩm đó trước công chúng; quyền được sao chép tác phẩm; quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng những phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử; quyền cho thuê bản gốc hay bản sao tác phẩm điện ảnh.

6. Qúa trình bảo hộ tác phẩm phóng tác như thế nào?

Căn cứ tại Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT), tác phẩm phái sinh được định nghĩa là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn. Trong đó, tác phẩm phóng tác được hiểu là tác phẩm phỏng theo nội dung một tác phẩm đã có trước, chuyển tác phẩm từ thể loại này sang thể loại khác để tạo ra tác phẩm có hình thức thể hiện khác với hình thức thể hiện của tác phẩm ban đầu.

>> Xem thêm:  Biên soạn là gì ? Quy trình biên soạn được thực hiện như thế nào ?

Tác phẩm phái sinh thuộc đối tượng bảo hộ quyền tác giả, theo đó tác giả có các quyền nhân thân và tài sản đối với tác phẩm phái sinh do mình sáng tác. Quyền tác giả đối với tác phẩm phóng tác bao gồm:

+ Quyền nhân thân theo quy định tại Điều 19 Luật SHTT bao gồm các quyền sau:

- Quyền đặt tên cho tác phẩm;

- Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;

- Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;

- Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.

+ Quyền tài sản theo quy định tại Điều 20 Luật SHTT bao gồm các quyền sau:

- Quyền làm tác phẩm phái sinh;

- Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

- Quyền sao chép tác phẩm; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn đăng ký bảo hộ giống cây trồng tại Việt Nam

- Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

- Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.

Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả đối với tác phẩm phóng tác là vô thời hạn. Thời hạn bảo hộ quyền công bố tác phẩm và quyền tài sản đối với tác phẩm phóng tác tùy thuộc vào loại hình tác phẩm theo quy định tại Điều 27 Luật SHTT.

Ngoài ra, tác phẩm phóng tác chỉ được bảo hộ nếu không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc và có tính nguyên gốc, do chính tác giả tự mình sáng tạo ra mà không sao chép từ tác phẩm khác.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Khi nào sử dụng bản quyền mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao?

Câu hỏi thường gặp liên quan đến phóng tác ?

Câu hỏi: Phóng tác được quy định thế nào?

Trả lời:

Phóng tác là sự mô phỏng theo nội dung của một tác phẩm đã có trước đó, chuyển tác phẩm từ thể loại này sang một thể loại khác nhằm tạo ra một tác phẩm có hình thức thể hiện khác so với hình thức thể hiện của tác phẩm ban đầu.

Câu hỏi: Tác phẩm phái sinh là như thế nào?

Trả lời:

Tại Khoản 8 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ có quy định tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn.

Câu hỏi: Quyền tài sản được quy định thế nào theo Luật Sở hữu trí tuệ?

Trả lời:

Quyền tài sản theo quy định tại Điều 20 Luật SHTT bao gồm các quyền sau:

- Quyền làm tác phẩm phái sinh;

- Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

- Quyền sao chép tác phẩm; quyền phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

- Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;

- Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.