Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế công bố Quyết định số 98/QĐ-TCT về Quy trình quản lý rủi ro trong việc lựa chọn hồ sơ khai thuế Giá trị gia tăng (GTGT), Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), và thuế Tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) để tiến hành kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế. Quyết định này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý thuế và kiểm tra hồ sơ khai thuế, nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quá trình thu thuế.
Trong văn bản hướng dẫn, Điều 6 của Quy trình, được ban hành kèm theo Quyết định 98/QĐ-TCT năm 2024, tập trung đặc biệt vào việc đánh giá, phân loại, và xử lý kết quả phân loại mức độ rủi ro trong hồ sơ khai thuế. Quy trình này không chỉ là sự chỉ đạo chặt chẽ mà còn là cơ sở pháp lý cho các hoạt động đánh giá rủi ro, nhằm tăng cường quản lý và giảm thiểu rủi ro thuế. Bằng cách áp dụng các nguyên tắc và quy trình quản lý rủi ro, Quyết định 98/QĐ-TCT mở ra một cánh cửa mới cho hiệu quả và tính linh hoạt trong công tác kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế. Theo đó, quản lý rủi ro khai thuế được được quy định như sau:
1. Nguyên tắc chung để đánh giá, phân loại, xử lý kết quả phân loại rủi ro hồ sơ khai thuế
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, việc quản lý thuế trở nên ngày càng phức tạp và quan trọng hơn bao giờ hết. Để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quá trình đánh giá, phân loại, và xử lý kết quả phân loại mức độ rủi ro hồ sơ khai thuế, Quyết định 98/QĐ-TCT năm 2024 đã ban hành Điều 6 Quy trình, đặt ra những nguyên tắc chung quan trọng.
Một trong những điểm nổi bật là sự tự động hóa trong việc phân tích, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro để lựa chọn Hệ thống Kế toán GTGT, Thu nhập doanh nghiệp, Thuế Thu nhập cá nhân kiểm tra tại trụ sở Cơ quan thuế. Điều này không chỉ giúp tăng cường tính hiệu quả mà còn giảm bớt gánh nặng công việc cho nhân sự, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý và giảm thiểu khả năng phát sinh sai sót.
Nguyên tắc chung này đồng thời đặt ra một tiêu chí chất lượng cao trong việc quản lý rủi ro, đảm bảo rằng các doanh nghiệp đều được xử lý theo cách công bằng và minh bạch. Sự tập trung vào ứng dụng Quản lý Rủi ro (QLRR) không chỉ là một bước tiến lớn trong việc áp dụng công nghệ vào quản lý thuế mà còn là bảo đảm sự nhất quán và thống nhất trong quá trình đánh giá và phân loại. Hơn nữa, việc này không chỉ giúp doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện về mức độ rủi ro của hồ sơ khai thuế mà còn giúp chính phủ nắm bắt được thông tin quan trọng, từ đó đưa ra các chính sách quản lý thuế hiệu quả và linh hoạt.
Bên cạnh việc tự động hóa quá trình đánh giá, phân loại mức độ rủi ro thông qua ứng dụng QLRR, bộ phận QLRR tại các Cơ quan thuế cấp quản lý trực tiếp người nộp thuế (NNT) còn thực hiện một lịch trình cụ thể để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin. Hành động này nhằm mục đích giám sát và điều chỉnh mức độ rủi ro của Hồ sơ khai thuế GTGT, Thu nhập doanh nghiệp và Thuế thu nhập cá nhân của NNT.
Trước hết, đối với hồ sơ khai thuế (HSKT) giá trị gia tăng (GTGT) và tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), quá trình đánh giá, phân loại mức độ rủi ro diễn ra định kỳ vào ngày 25 hàng tháng. Trong trường hợp NNT có sửa đổi hoặc bổ sung HSKT GTGT, TTĐB, bộ phận QLRR sẽ thực hiện lại việc đánh giá và phân loại mức độ rủi ro vào ngày 25 tháng sau. Điều này giúp đảm bảo rằng bất kỳ thay đổi nào trong HSKT được nhanh chóng và chính xác phản ánh trong quá trình đánh giá rủi ro.
Với HSKT thu nhập doanh nghiệp (TNDN), quá trình đánh giá, phân loại mức độ rủi ro thực hiện vào ngày 25 tháng 4 hàng năm. Ngoài ra, trong trường hợp NNT có kỳ khai thuế TNDN khác năm dương lịch hoặc có sửa đổi, bổ sung HSKT TNDN, việc đánh giá, phân loại lại mức độ rủi ro được thực hiện vào ngày 25 tháng 4, ngày 25 tháng 7 và ngày 25 tháng 10. Điều này đảm bảo rằng mọi biến động trong HSKT TNDN được kiểm soát và quản lý liên tục suốt năm, giúp nâng cao khả năng dự báo và ứng phó với rủi ro.
Trên cơ sở của tổng điểm rủi ro của HSKT và ngưỡng rủi ro được đặt ra, ứng dụng Quản lý Rủi ro tự động thực hiện việc phân loại mức độ rủi ro cho mỗi HSKT GTGT, HSKT TNDN, và HSKT TTĐB. Quy trình này nhằm mục đích cung cấp cái nhìn tổng quan và chính xác về mức độ rủi ro mà NNT đang phải đối mặt, từ đó hỗ trợ quyết định và thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả.
Cụ thể, ứng dụng QLRR tự động phân loại mức độ rủi ro của HSKT GTGT, HSKT TNDN, và HSKT TTĐB thành ba mức: rủi ro cao, rủi ro trung bình, và rủi ro thấp. Điều này giúp xác định rõ ràng mức độ nguy cơ mà mỗi HSKT mang lại, tạo điều kiện cho các bộ phận quản lý thực hiện biện pháp phù hợp tùy thuộc vào mức độ rủi ro cụ thể. Kết quả của quá trình phân loại mức độ rủi ro đối với HSKT của NNT được tổng hợp theo mẫu số 01-KTTB/QTr-QLRR, được ban hành kèm theo Quy trình này. Mẫu số này sẽ chứa thông tin chi tiết về mức độ rủi ro của từng loại HSKT, đồng thời là cơ sở dữ liệu quan trọng hỗ trợ quyết định quản lý thuế.
2. Xây dựng ngưỡng rủi ro của hồ sơ khai thuế
Xây dựng ngưỡng rủi ro là một quá trình quan trọng trong việc đánh giá mức độ rủi ro của Hồ sơ khai thuế, nhằm đặt ra các tiêu chí cụ thể để phân loại rủi ro thành ba mức: rủi ro cao, rủi ro trung bình và rủi ro thấp. Việc xây dựng ngưỡng rủi ro không chỉ là một bước quan trọng mà còn là nền tảng cho việc quản lý rủi ro thuế một cách hiệu quả. Ngưỡng rủi ro cần phải được phê duyệt chặt chẽ trên hệ thống và có hiệu lực ngay từ thời điểm được phê duyệt. Điều này đảm bảo tính minh bạch và nhất quán trong việc áp dụng ngưỡng rủi ro cho mỗi HSKT, đồng thời giúp tạo ra một cơ sở pháp lý chắc chắn để thực hiện quá trình phân loại rủi ro.
Quá trình điều chỉnh và ban hành ngưỡng rủi ro phải tuân thủ theo yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ và được hướng dẫn cụ thể bởi Tổng cục Thuế. Sự hướng dẫn này không chỉ giúp định rõ các quy định và tiêu chí trong việc xây dựng ngưỡng rủi ro mà còn đảm bảo tính đồng nhất và thống nhất trong toàn hệ thống quản lý rủi ro thuế.
Ứng dụng Quản lý Rủi ro mở ra khả năng linh hoạt trong việc xác định ngưỡng rủi ro cao bằng cách cung cấp hai phương pháp độc lập như sau:
- Phương pháp số tuyệt đối đầu tiên là xác định số lượng HSKT có dấu hiệu rủi ro cao dựa trên tổng điểm rủi ro và số lượng chỉ số tiêu chí rủi ro cao. Hoặc, có thể xác định số lượng HSKT có tổng điểm rủi ro cao cụ thể cho từng Cơ quan thuế. Đây là phương pháp cụ thể, giúp nắm bắt chính xác mức độ rủi ro và đưa ra quyết định có hiệu quả trong quản lý rủi ro thuế.
- Phương pháp số tương đối thứ hai cho phép xác định số lượng HSKT có dấu hiệu rủi ro cao theo tỷ lệ phần trăm (%). Điều này được tính dựa trên tỷ lệ HSKT có tổng điểm rủi ro cao nhất và số lượng chỉ số tiêu chí được xác định là rủi ro cao. Phương pháp này giúp đưa ra cái nhìn tổng thể về mức độ rủi ro theo tỷ lệ phần trăm, phản ánh một cách chân thực và linh hoạt tình hình rủi ro trong hệ thống thuế.
Để bảo đảm tính công bằng trong quá trình phân loại, QLRR áp dụng nguyên tắc tỷ lệ (số lượng) HSKT phân loại mức độ rủi ro thấp tương ứng với 50% tổng số HSKT, lấy từ tổng điểm rủi ro thấp nhất trở lên. Tỷ lệ (số lượng) HSKT phân loại mức độ rủi ro trung bình được tính bằng cách trừ đi tỷ lệ (số lượng) HSKT rủi ro cao và HSKT rủi ro thấp từ tỷ lệ (số lượng) HSKT tổng cộng. Điều này giúp duy trì sự cân bằng và minh bạch trong quá trình phân loại mức độ rủi ro của HSKT.
Trong trường hợp các Hồ sơ khai thuế thuộc ngưỡng rủi ro cao và có cùng tổng điểm rủi ro, quy trình xét nghiệm sẽ dựa trên các tiêu chí phụ, sắp xếp kết quả rủi ro từ mức độ cao đến thấp với thứ tự ưu tiên như sau:
| STT | Chỉ số tiêu chí |
| I. | Hồ sơ khai thuế GTGT |
| 1 | [Tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào kỳ này so với trung bình 12 tháng (hoặc 4 quý) trước liền kề] - [Tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra kỳ này so với trung bình 12 tháng (hoặc 4 quý) trước liền kề]. |
| 2 | Tỷ lệ “Doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra chịu thuế suất 0%/Tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra” kỳ này so với kỳ trước. |
| 3 | Tỷ lệ “Doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra không chịu thuế/Tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra” kỳ này so với kỳ trước. |
| 4 | Tỷ lệ “Thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào/Tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào” kỳ này so với kỳ trước. |
| 5 | Tỷ lệ “Thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra/Tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra” kỳ này so với kỳ trước. |
| II. | Hồ sơ khai thuế TNDN |
| 1 | Tỷ lệ “Tổng các khoản giảm trừ doanh thu/Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” kỳ này so với kỳ trước. |
| 2 | Tỷ lệ “Người mua trả tiền trước cuối kỳ/Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” kỳ này so với kỳ trước. |
| 3 | Tỷ lệ “Tổng các khoản dự phòng cuối kỳ/ Tổng chi phí” kỳ này so với kỳ trước. |
| 4 | Tỷ lệ “Phải trả người lao động cuối kỳ/Tổng chi phí” kỳ này so với kỳ trước. |
| III. | Hồ sơ khai thuế TTĐB |
| 1 | Tỷ lệ “Doanh thu bán (chưa có thuế GTGT) hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế TTĐB/Tổng doanh thu hàng hóa, dịch vụ bán ra” kỳ này so với kỳ trước. |
| 2 | Tỷ lệ “Thuế TTĐB được khấu trừ/Tổng số thuế TTĐB phải nộp” kỳ này so với kỳ trước. |
| 3 | Chênh lệch không được khấu trừ giữa số thuế TTĐB đã nộp ở khâu nhập khẩu với số thuế TTĐB bán ra trong nước. |
3. Đánh giá và phân loại hồ sơ khai thuế
Dựa trên kết quả phân loại mức độ rủi ro của HSKT, ứng dụng Quản lý Rủi ro tự động thực hiện việc lựa chọn HSKT Giá trị gia tăng, Thu nhập doanh nghiệp và Thuế thu nhập cá nhân có mức độ rủi ro cao theo mẫu số 02-KTTB/QTr-QLRR được ban hành kèm theo Quy trình này. Điều này giúp đơn giản hóa quá trình xác định và quản lý mức độ rủi ro thuế của NNT.
Ứng dụng QLRR không chỉ giới hạn việc lựa chọn HSKT rủi ro cao mà còn hỗ trợ tự động xây dựng danh sách NNT dự kiến để kiểm tra tại trụ sở Cơ quan thuế. Theo nguyên tắc được quy định trong mẫu số 03-KTTB/QTr-QLRR, các NNT có từ một đến ba HSKT rủi ro cao sẽ được xác định và liệt kê.
Để đảm bảo tính chính xác và không trùng lặp, danh sách NNT lựa chọn dự kiến để kiểm tra HSKT tại trụ sở CQT không trùng với danh sách NNT thuộc kế hoạch kiểm tra tại trụ sở CQT đã được Lãnh đạo CQT ký duyệt trước ngày 30 tháng 12 hàng năm, theo quy định tại Quy trình kiểm tra thuế. Điều này giúp đảm bảo sự linh hoạt và hiệu quả trong công tác kiểm tra, đồng thời tránh tình trạng trùng lặp và làm tăng khả năng quản lý rủi ro thuế của Cơ quan thuế.
Chậm nhất đến ngày 28 hàng tháng, bộ phận Quản lý Rủi ro tại Cơ quan thuế các cấp, quản lý trực tiếp NNT, tiến hành quy trình kết xuất các mẫu số 02-KTTB/QTr-QLRR và 03-KTTB/QTr-QLRR. Sau đó, chúng được chuyển giao cho bộ phận Thanh tra - Kiểm tra thuế quản lý trực tiếp NNT, để tiếp tục công đoạn phân công rà soát và kiểm tra.
Bổ sung vào đó, bộ phận QLRR có thể sử dụng ứng dụng để in Phiếu nhận xét HSKT theo các mẫu số 04-KTTB/QTr-QLRR, 05-KTTB/QTr-QLRR, và 06-KTTB/QTr-QLRR được ban hành kèm theo Quy trình này. Hành động này nhằm hỗ trợ bộ phận Thanh tra - Kiểm tra thuế trong quá trình rà soát và kiểm tra Hồ sơ khai thuế của NNT, nếu có sự cần thiết. Điều này tăng cường khả năng hiệu quả và chính xác trong công tác quản lý và giám sát thuế, đồng thời đảm bảo rằng mọi thông tin được xử lý và đánh giá một cách chặt chẽ và đáng tin cậy.
Xem thêm >>> Chuyên viên cao cấp về Quản lý rủi ro thuế có công việc cụ thể nào? hoặc Một số lỗi thường gặp khi nộp hồ sơ khai thuế qua mạng và cách xử lý
Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề quản lý rủi ro hồ sơ khai thuế. Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.