Quá trình chuyển từ hình thức sở hữu tư nhân về đất đai, tài sản, doanh nghiệp sang hình thức sở hữu nhà nước hay sở hữu công cộng. Trong nền kinh tế hỗn hợp, một số ngành thuộc sở hữu của chính phủ, nhưng phần lớn các doanh nghiệp đều thuộc về sở hữu tư nhân. Quy mô của sở hữu nhà nước phụ thuộc vào hệ tư tưởng chính trị chủ dạo.
Lý do kinh tế chủ yếu dẫn tới sự quốc hữu hoá là độc quyền tự nhiên. Trong một số ngành, việc cung cấp hàng hoá được thực hiện có hiệu quả hơn nếu chỉ có một nhà cung cấp, vì điều này góp phần tận dụng hiệu quả quy mô để tiết kiệm chi phí. Ngoài ra, hệ thống cung ứng có thể phức tạp, đan chéo nhau, tạo thành một mạng lưới như điện nâng, cấp nước, khí đốt, đường sắt. Trong những trường hợp như vậy, việc tổ chức mạng lưới đường sắt, đường ống, mạng lưới điện thống nhất sẽ tránh được sự trùng lặp và chi phí quá cao.
Chúng ta có thể chấp nhận độc quyền tự nhiên của tư nhân và điều tiết nó, không cần phải quốc hữu hoá. Nhưng nhiều người sợ rằng các công ty tư nhân lạm dụng địa vị độc quyền của mình và làm hạíhgười tiêu dùng bằng cách định giá quá cao. Do đó, họ cho rằng phải quốc hữu hoá các ngành độc quyền tự nhiên, rằng chỉ có chính phủ mới hành động vì lợi ích công cộng và quy định giá phải chăng. Tuy nhiên, những người chống lại việc quốc hữu hoá cho rằng độc quyền của chính phủ có thể gây ra tình trạng quan liêu, cửa quyền và không có hiệu quả (chi phí cao, dịch vụ kém). Trong những năm gần đây, nhiều công ty quốc hữu hóa ở các nước phương Tây làm ăn thua lỗ, buộc chính phủ phải trợ cấp. Vì vậy, xí nghiệp quốc doanh trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Chính tình hình này đã dẫn tới xu hướng tư nhân hoá (ngược với quốc hữu hoá) hiện đang rất được ưa chuộng.