1 Quy định chung về tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

Khi một người vắng mặt tại nơi cư trú trong một thời gian dài mà không ai rõ về tung tích của họ, thì sẽ phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người biệt tích hoặc của những người khác có liên quan, như: quản lý tài sản của ngưòi bị biệt tích, giải quyết các quan hệ về dân sự giữa người bị biệt tích với những người khác, v.v.. Chính vì vậy, Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về chế định tìm kiêm, quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú. Tuy nhiên, đến nay, trình tự, thủ tục cụ thể về việc giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú mới được quy định lần đầu tiên trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành (từ Điểu 381 đến Điều 386).

Theo quy định của pháp luật, cá nhân phải đăng kí hộ khẩu tại nơi cư trú, khi chuyển đến nơi ở mới hoặc vắng mặt tại nơi cư trú phải thực hiện đầy đủ việc đăng kí, quản lí tạm trú, tạm vắng. Khi một người vắng mặt ở nơi cư trú từ 06 tháng trở lên nhưng không làm các thủ tục khai báo tạm vắng, tạm trú sẽ gây khó khăn cho việc quản lí hộ tịch đối với người đó và có thể ảnh hưởng tới những người có liên quan đến họ. Vì vậy, khoản 1 Điều 381 Bộ luật tố tụng dan sự 2015 quy định, những người có quyền, lợi ích liên quan đến người vắng mặt có quyền yêu cầu tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú khi người đó biệt tích trong 06 tháng liền trở lên. Cùng với yêu cầu tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, người yêu cầu có thể yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp quản lí tài sản của người vắng mặt đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

Đơn yêu cầu tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có đủ các nội dung như một đơn yêu cầu nói chung quy định tại khoản 2 Điều 362 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, trong đó nêu rõ yêu cầu tòa án thông báo tìm kiếm ai; họ, tên, nơi cư trú của người đó; yêu cầu quản lí tài sản của người vắng mặt (nếu có); lí do, mục đích và các căn cứ chứng minh cho yêu cầu này.

Gửi kèm theo đơn yêu cầu tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có chứng cứ, tài liệu để chứng minh là người đó biệt tích trong 06 tháng liền trở lên như: xác nhận của cơ quan quản lí hộ tịch, của những người sống cùng với người đó trước khi vắng mặt, của người láng giềng, của tổ dân phố, thời gian không nhận được tin tức của họ. Trong trường hợp có yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp quản lí tài sản của người vắng mặt thì phải cung cấp tài liệu về số lượng, chủng loại, đặc điểm tài sản của người đó, việc quản lí tài sản hiện có và danh sách những người thân thích của người đó.

2. Những yếu tố cần xem xét khi có đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú:

- Đối tượng có quyền yêu cầu:

Theo quy định của pháp luật thì chỉ những người có quyền, lợi ích liên quan mới có quyền yêu cầu Toă án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Người đó có thể là vợ, chồng, con, v.v. của người đang vắng mặt tại nơi cư trú.

- Người bị coi là vắng mặt tại nơi cư trú phải là người đã biệt tích trong sáu tháng liền trở lên.

Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, thẩm phán cần triệu tập một hoặc một so trong số những người thân thích của người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đến tham gia tố tụng để có thể xác minh các thông tin liên quan đến tài sản, sự vắng mặt của người vắng mặt tại nơi cư trú. Đồng thời, khi có yêu cầu quản lí tài sản của người vắng mặt thì họ có thể sẽ là người quản lí tài sản của người vắng mặt. Theo yêu cầu của đương sự, thẩm phán cũng có thể xác minh các thông tin liên quan đến người vắng mặt tại nơi người đó cư trú, cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc có tài sản. Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm trở về và yêu cầu tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

>> Xem thêm:  Đơn khởi kiện là gì ? Khái niệm về đơn khởi kiện

Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; trường hợp có yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp quản lí tài sản của người vắng mặt đó tại nơi cư trú và được chấp nhận thì trong quyết định, tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp qun lí tài sản của người đó và chỉ định người quản lí tài sản của họ theo quy định của Bộ luật dân sự.

Mục đích của việc thông báo tìm kiếm là để xác định thông tin liên quan đến người vắng mặt, người đó còn sống khi nhận được thông báo sẽ hồi âm cho tòa án và bất kì ai biết được tin tức về người đó đều có thể cung cấp cho tòa án. Ngoài ra, khi hết thời hạn thông báo mà vẫn không có tin tức về người vắng mặt sẽ là cơ sở để tòa án áp dụng các biện pháp quản lí tài sản của họ. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có các nội dung quy định tại Điều 384 thông báõ này phải được đăng trên một tfong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, cổng thông tin điện tử của tòa.

Theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên đài phát thanh hoặc đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp, về mặt không gian, phạm vi đăng thông báo rất rộng, không chỉ giới hạn ở địa phương nơi cư trú cuối cùng của người đó để nếu họ đang có mặt ở địa phương khác hoặc người ở địa phương khác biết được tin tức về họ đều có thể cung cấp thông tin cho tòa án. Theo chúng tôi, thông báo này cũng cần được niêm yết tại trụ sở tòa án, tại uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng, tại nơi cư trú cuối cùng của người vắng mặt để nếu trở về họ có thể biết ngay việc tòa án đang thông báo tìm kiếm họ. Theo quy định tại Điều 386 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đương n hiên hết hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu.

3. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu

Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là 20 ngày, kể từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu; hết thòi hạn đó, Toà án phải ra quyết định mỏ phiên họp để xét đơn yêu cầu.

Khoản 2 Điều 382 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành có quy định “trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Toà án ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm trở về và yêu cầu Toà án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu”. Nhưng, thiết nghĩ quy định này cũng không hạn chế trường hợp tại phiển họp xét đơn yêu cầu mà xuất hiện các điều kiện nói trên thì Thẩm phán cũng ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu cầu.

4. Thời hạn mở phiên họp

Trong thòi hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định mỗ phiên họp, Thẩm phán phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

Như vậy, đối với loại việc này, kể từ ngày thụ lý cho đến ngày phải mỏ phiên họp chỉ trong vòng 30 ngày, quá 30 ngày mới mở phiên họp sẽ bị coi là vi phạm thòi hạn giải quyết loại việc này.

Việc xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú cũng do một Thẩm phán giải quyết.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền là gì ? Quy định pháp luật về thẩm quyền

5. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú

Toà án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định chấp nhận đơn yêu cầu và ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; nếu trong trường hợp đương sự có yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó tại nơi cư trú và được chấp nhận thì trong quyết định chấp nhận đơn yêu cầu, Toà án cần phải áp dụng biện phấp quản lý tài sản đó theo quy định của Điều 65 Bộ luật dân sự năm 2015 và người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có các nghĩa vụ và quyền được quy định tại các điều 66, 67 Bộ luật dân sự năm 2015.

Khi Toà án quyết định chấp nhận đơn yêu cầu và ra thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì nội dung của thông báo phải đáp ứng được yêu cầu đã quy định tại Điều 384 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.

Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải được đăng trên báo hằng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình Trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.

Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu.

Toà án có thể trực tiếp tiến hành các thủ tục thông báo và có thể người yêu cầu trực tiếp tiến hành việc thông báo. Nếu Toà án tiến hành việc thông báo thì người yêu cầu phải nộp cho Toà án các chi phí khi thông báo; nếu người yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì họ phải nộp cho Toà án các tài liệu chứng minh là họ đã tiến hành việc thông báo đó (thông báo đã được đăng trên báo hằng ngày của Trung ương ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc truyền hình của Trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp).

Cần lưu ý là: Theo quy định tại Điều 386 Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành thì quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú sẽ đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp người cần tìm kiếm trở về.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền chánh án, phó chánh án toà án, thẩm phán, hội thẩm, thư kí toà án, thẩm tra viên ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Khái niệm về mất tích theo quy định của pháp luật?

Trả lời:

Có thể hiểu mất tích là tình trạng của một cá nhân vắng mặt liên tục trong một thời gian dài mà không rõ họ còn sống hay đã chết do không có tin tức gì liên quan đến cá nhân đó. Một cá nhân chỉ được coi là mất tích khi có tuyên bố mất tích do Tòa án đưa ra.

Câu hỏi: Khái niệm về thường trú?

Trả lời:

Theo quy định pháp luật của Việt Nam tại Luật cư trú 2006 thì Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú. Và kết quả của việc đăng ký thường trú là Sổ hộ khẩu.

Câu hỏi: Quy định về quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú?

Trả lời:

1. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho những người sau đây quản lý:

a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt uỷ quyền quản lý thì người được uỷ quyền tiếp tục quản lý;

b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;

c) Tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.

2. Trong trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Toà án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.