Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hành chính của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hành chính, gọi: 1900.6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật khiếu nại năm 2011

- Quyết định số 546/QĐ-VKSTC ngày 03/12/2018

- Quyết định số 51/ QĐ-VKSTC-V12 (Quy chế 51)

2. Quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật là gì?

Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật bao gồm quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, quyết định giải quyết khiếu nại lần hai mà trong thời hạn do pháp luật quy định người khiếu nại không khiếu nại tiếp, không khởi kiện vụ án hành chính tại toà án.

3. Khi nào thụ lý đơn đề nghị kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

Điều 12 Quyết định số 546 quy định định về kiểm tra điều kiện thụ lý như sau:

Khi tiếp nhận đơn đề nghị kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Quy chế số 51 phải kiểm tra điều kiện thụ lý đơn; chỉ xem xét để thụ lý kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Quy chế số 51.

Điểm b khoản 1 Điều 14 Quy chế 51 quy định như sau: Đơn đề nghị kiểm tra lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của Viện kiểm sát chỉ được xem xét kiểm tra khi có một trong những điều kiện sau: đơn bức xúc, kéo dài; đơn về những vụ việc có dấu hiệu oan, sai; đơn có sự chỉ đạo xem xét của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đơn được các cơ quan báo chí và dư luận quan tâm; đơn có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở trung ương hoặc địa phương.

4. Ban hành quyết định kiểm tra, quyết định phân công kiểm tra và kế hoạch kiểm tra

Sau khi kiểm tra đơn thấy đủ điều kiện thụ lý, Viện kiểm sát có thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra, quyết định phân công người tiến hành kiểm tra quyêt định giải quyêt khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Quyết định kiểm tra phải gửi cho Viện kiểm sát đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật trước khi tiến hành kiểm tra.

Người được phân công kiểm tra phải xây dựng kế hoạch kiểm tra trình người có thẩm phê duyệt. Nội dung Kế hoạch kiểm tra gồm: Căn cứ pháp lý để tiến hành kiểm tra; mục đích, yêu cầu của việc kiểm tra; nội dung kiểm tra; cơ quan, tổ chức, cá nhân phải làm việc để thu thập, xác minh các thông tin, tài liệu, chứng cứ; các điều kiện, phương tiện phục vụ cho việc kiểm tra; áp dụng biện pháp ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra (nếu thấy cần thiết); dự kiến thời gian, tiến độ thực hiện từng công việc; thời gian dự phòng để xử lý các công việc phát sinh; các nội dung khác có liên quan (nếu có).

5. Trình tự, thủ tục tiến hành kiểm tra

Khi tiến hành kiểm tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra hoặc người được phân công kiểm tra thực hiện các thủ tục sau:

- Yêu cầu người có đơn đề nghị cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc đề nghị kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật; yêu cầu Viện kiểm sát đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật giải trình và cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết khiếu nại.

- Kiểm tra nội dung đơn đề nghị và những thông tin, tài liệu, chứng cứ do người đề nghị kiểm tra đã cung cấp.

- Kiểm tra nội dung văn bản giải trình của Viện kiểm sát đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

- Kiểm tra về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và nội dung giải quyết khiếu nại.

- Trong trường hợp qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu có liên quan thấy chưa rõ hoặc có dấu hiệu của việc oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người được phân công kiểm tra tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; trực tiếp kiểm tra, xem xét hiện trường nơi xảy ra vụ việc.

Trường hợp cần thiết, nếu vụ việc có quyết định tố tụng, hành vi tố tụng bị khiếu nại đang trong quá trình tố tụng thì Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra yêu cầu cơ quan tố tụng có thẩm quyền trưng cầu giám định, giám định lại; nếu vụ việc có quyết định tố tụng, hành vi tố tụng bị khiếu nại không còn trong quá trình tố tụng thì Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra trưng cầu giám định, giám định lại.

6. Kết thúc kiểm tra

Báo cáo kết quả kiểm tra

Trên cơ sở kết quả kiểm tra và các thông tin, tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, người được phân công kiểm tra báo cáo bằng văn bản kết quả kiểm tra trình người có thẩm quyền quyết định. Báo cáo kết quả kiểm tra phải có các nội dung chính sau:

- Nội dung vụ việc dẫn đến khiếu nại;

- Quá trình giải quyết khiếu nại;

- Phân tích, đánh giá thông tin, tài liệu, chứng cứ để chứng minh tính đúng, sai của quyết định tố tụng, hành vi tố tụng bị khiếu nại; kết luận về tính đúng, sai của quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật;

- Đồ xuất nội dung kết luận kiểm tra: Chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hay bác đơn đề nghị; việc xử lý đối với quyết định tố tụng, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại bị khiếu nại; Giải quyết các vấn đề khác có liên quan (nếu có).

Ban hành kết luận kiểm tra và thông báo kết quả kiểm tra

Căn cứ báo cáo kết quả kiểm tra đã được phê duyệt, người được phân công kiểm tra dự thảo kết luận kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và vãn bản thông báo kết quả kiểm tra gửi người có đơn đề nghị để trình người có thẩm quyền ký ban hành.

Nội dung kết luận kiểm tra gồm: Nội dung vụ việc dẫn đến khiếu nại; kết quả giải quyết khiếu nại trước đó; kết quả xác minh; kết luận về tính đúng, sai của quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm nghiêm trọng, vụ việc có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm hoặc có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản về nội dung giải quyết khiếu nại trước đó thì ngoài việc ban hành kết luận kiểm tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra còn phải ban hành quyết định hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Đối với các quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra ban hành quyết định hủy bỏ hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ theo quy định của pháp luật.

7. Lưu trữ hồ sơ kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

Đơn vị chủ trì việc kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật phải có trách nhiệm lập hồ sơ kiểm tra. Hồ sơ kiểm tra phải có đơn đề nghị kiểm tra; quyết định kiểm tra; quyết định phân công kiểm tra; kế hoạch kiểm tra đã được phê duyệt; tài liệu giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật; tài liệu, chứng cứ khác có liên quan đã thu thập được trong quá trình kiểm tra, v.v...

Hồ sơ kiểm tra được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu trữ theo quy định của pháp luật và của Ngành.

8. Ý nghĩa của việc kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

Quy chế số 51/QĐ-VKSTC ngày 02/02/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao quy định về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp (Quy chế số 51) đã quy định cụ thể về cơ chế kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Đây là điểm mới rất quan trọng, là "thủ tục đặc biệt" của Viện kiểm sát trong công tác giải quyết khiếu nại về tư pháp thuộc thẩm quyền.

Quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật cần được hiểu là bao gồm cả quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng (được ghi trong quyết định giải quyết) và quyết định giải quyết lần đầu nhưng không có khiếu nại tiếp theo trong thời hạn luật định. Trong đó, có thể xác định quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng là thủ tục đóng của trình tự giải quyết khiếu nại mà theo quy định của pháp luật, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành; và đến nay chỉ còn được sử dụng trong các đạo luật về tư pháp.

Mặc dù vậy, xuất phát từ thực tiễn, rất nhiều quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn có sai sót, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người liên quan. Do vậy, quá trình xây dựng Quy chế số 51, đơn vị chức năng của VKSND tối cao đã xem xét xây dựng quy định này để thực hiện trong ngành, không chỉ nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong quan hệ pháp luật khiếu nại, tố cáo về tư pháp thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát mà còn có ý nghĩa đảm bảo hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát được đúng pháp luật, kịp thời khắc phục hậu quả sai sót, nếu có. Vì vậy, xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực có thể được coi là thủ tục đặc biệt của Viện kiểm sát trong công tác giải quyết khiếu nại về tư pháp thuộc thẩm quyền. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng, đây không phải là trình tự giải quyết khiếu nại tiếp theo của giải quyết khiếu nại cuối cùng mà là hai thủ tục khác biệt, do có nét tương đồng nhất định, cho nên, để tránh nhầm lẫn trong nhận thức cũng như thực tiễn, cần xác định sự tương đồng và khác biệt giữa chúng.

Xét về mặt tương đồng, hai thủ tục này đều là việc xem xét lại toàn bộ quá trình hoạt động tư pháp hoặc gồm cả việc giải quyết khiếu nại trước đó nhưng đương sự không chấp nhận kết quả và khiếu nại tiếp. Đồng thời, các loại việc này có thể phát sinh ở bất cứ hoạt động tư pháp nào, song trong thực tiễn, chủ yếu ở lĩnh vực hình sự, nhất là hoạt động điều tra, truy tố và việc xem xét, giải quyết đều được thực hiện theo trình tự, thủ tục như: Làm việc trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người liên quan, xác minh, thu thập tài liệu, tiến hành đối chất; thực hiện lại các hoạt động tố tụng khác, nếu cần thiết...

Đối với việc xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, đây là thủ tục đặc biệt trong quy trình giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát, không bị ràng buộc bởi thời hiệu gửi đơn, nhưng phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 14 Quy chế số 51, đó là: “Đơn bức xúc, kéo dài; đơn về những vụ việc có dấu hiệu oan, sai; đơn có sự chỉ đạo xem xét của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; đơn được các cơ quan báo chí và dư luận quan tâm; đơn có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở trung ương hoặc địa phương”. Kết quả việc xem xét này là việc Viện kiểm sát ban hành Kết luận kiểm tra, trong đó, có thể giữ nguyên hoặc hủy quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định tố tụng trước đó (nếu là quyết định); khẳng định sự đúng, sai (nếu đối tượng khiếu nại hành vi).

Có thể thấy rằng, việc quy định và thực hiện xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của Viện kiểm sát có ý nghĩa tháo gỡ “nút thắt” cuối cùng của trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát khi cần thiết, nhằm giải thích, giúp người khiếu nại nhận thức đúng quy định của pháp luật về nội dung khiếu nại và sự phù hợp thực tiễn của vấn đề; mặt khác, giải quyết, khắc phục sai sót, vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng hoặc các hoạt động tư pháp khác và giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát có thẩm quyền.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hành chính - Công ty luật Minh Khuê