Trong quá trình Nhà nước thu hồi đất để phục vụ quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, vấn đề bồi thường, hỗ trợ và tái định cư luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi, mà còn là yếu tố quyết định đến sự đồng thuận của người dân và tính ổn định xã hội. Việc quy định rõ ràng về kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống, sinh kế cho người bị ảnh hưởng, đồng thời bảo đảm quá trình thu hồi đất được thực hiện công khai, minh bạch và đúng pháp luật.

1. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Căn cứ khoản 1 Điều 94 Luật Đất đai 2024, toàn bộ kinh phí phục vụ việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được đảm bảo từ ngân sách nhà nước. Kinh phí này bao gồm ba phần chính:

Thứ nhất, là tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trực tiếp cho người bị thu hồi đất theo phương án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Thứ hai, là chi phí phục vụ cho việc tổ chức, triển khai bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, bao gồm các hoạt động như lập phương án, niêm yết công khai, vận động, hướng dẫn thủ tục và các chi phí quản lý liên quan.

Thứ ba, là các chi phí khác theo quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo quá trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thực hiện đầy đủ, minh bạch và đúng quy trình.

Ngoài ra, khoản 2 điều 94 Luật đất đai 2024 cũng quy định rõ về việc ứng trước kinh phí. Trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất, nếu chủ đầu tư tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã phê duyệt, ngân sách nhà nước sẽ hoàn trả bằng hình thức trừ vào số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp, không vượt quá tổng số tiền này. Số tiền còn lại, nếu có, sẽ được tính vào chi phí đầu tư của dự án. Trường hợp giao đất mà chủ đầu tư được miễn tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất, việc tự nguyện ứng trước kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng sẽ được tính trực tiếp vào chi phí đầu tư của dự án.

Như vậy, việc bố trí kinh phí không chỉ đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân bị thu hồi đất mà còn giúp chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước triển khai dự án một cách minh bạch, công khai và hiệu quả.

2. Thời hạn chi trả và trách nhiệm chậm chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Theo khoản 3 điều 94 Luật đất đai 2024, Việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo trình tự và thời hạn do pháp luật quy định nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, cụ thể:

3. Việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có hiệu lực thi hành, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản;

b) Trường hợp cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.

Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm phê duyệt phương án chi trả bồi thường chậm cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản. Kinh phí chi trả bồi thường chậm được bố trí từ ngân sách của cấp phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Theo đó, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có hiệu lực thi hành, cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức được giao thực hiện công tác bồi thường có trách nhiệm chi trả đầy đủ tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi và chủ sở hữu tài sản theo phương án đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Trường hợp việc chi trả bị chậm so với thời hạn quy định, khi thực hiện thanh toán, ngoài khoản tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án được phê duyệt, người có đất bị thu hồi và chủ sở hữu tài sản còn được thanh toán thêm một khoản tiền do chậm chi trả, được xác định theo mức tiền chậm nộp quy định tại Luật Quản lý thuế, tính trên số tiền và thời gian chậm trả. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm phê duyệt phương án chi trả tiền bồi thường chậm, đồng thời bảo đảm bố trí kinh phí chi trả bồi thường chậm từ ngân sách của cấp đã phê duyệt phương án, nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của người bị thu hồi đất và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện công tác bồi thường.

3. Xử lý trường hợp có tranh chấp hoặc người dân từ chối nhận tiền bồi thường

Theo khoản 4 điều 94 Luật đất đai 2024 quy định về trường hợp không nhận bồi thường, hỗ trợ khi bị thu hồi như sau:

4. Trường hợp người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc trường hợp đất thu hồi, tài sản đang có tranh chấp thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tiền gửi của đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mở tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối theo lãi suất không kỳ hạn. Tiền lãi từ khoản tiền bồi thường, hỗ trợ được trả cho người có quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản được bồi thường, hỗ trợ.

Trong thực tế, quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có thể phát sinh trường hợp người có đất bị thu hồi chưa đồng thuận nhận tiền bồi thường hoặc thửa đất đang có tranh chấp pháp lý chưa được giải quyết dứt điểm. Đối với các trường hợp này, nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời bảo đảm tiến độ thực hiện dự án, khoản tiền bồi thường, hỗ trợ sẽ được xử lý theo cơ chế tạm giữ.

Cụ thể, số tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ tại ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối và được gửi theo lãi suất không kỳ hạn. Toàn bộ tiền lãi phát sinh từ khoản tiền gửi này thuộc về người có quyền sử dụng đất hoặc chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất và sẽ được chi trả đầy đủ khi người đó nhận tiền bồi thường, sau khi tranh chấp được giải quyết theo quy định pháp luật hoặc khi người dân đồng ý nhận tiền. Cách thức xử lý này nhằm bảo đảm hài hòa quyền lợi của người bị thu hồi đất, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước tiếp tục triển khai các bước tiếp theo của quá trình thu hồi đất.

4. Nguyên tắc áp dụng giá khi điều chỉnh phương án bồi thường

Khoản 5 điều 94 Luật Đất đai 2024 đã thiết lập một nguyên tắc quan trọng mang tính bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất khi phương án bồi thường phải điều chỉnh, sửa đổi hoặc bổ sung, đặc biệt là trong trường hợp liên quan đến giá đất hoặc giá tài sản, cụ thể:

5. Trường hợp phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải chỉnh sửa, bổ sung mà có nội dung chỉnh sửa về giá đất, giá tài sản thì giá đất, giá tài sản để tính bồi thường được xác định tại thời điểm ban hành quyết định điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trường hợp tại thời điểm ban hành quyết định điều chỉnh phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà giá đất, giá tài sản thấp hơn so với giá đất, giá tài sản trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt thì áp dụng giá bồi thường trong phương án đã được phê duyệt. Các nội dung được chỉnh sửa, bổ sung mà không phải là giá đất, giá tài sản được áp dụng theo quy định của pháp luật về đất đai tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Theo đó, việc áp dụng giá để tính bồi thường được thực hiện theo hướng có lợi nhất cho người dân.

Cụ thể, nếu tại thời điểm ban hành quyết định điều chỉnh phương án bồi thường, giá đất hoặc giá tài sản cao hơn so với mức giá đã được phê duyệt trước đó, thì giá mới tại thời điểm điều chỉnh sẽ được áp dụng để tính bồi thường. Ngược lại, trong trường hợp giá tại thời điểm điều chỉnh thấp hơn giá đã được phê duyệt trong phương án ban đầu, thì giá cũ vẫn được giữ nguyên, nhằm tránh việc người dân bị thiệt thòi do biến động giảm của thị trường trong thời gian chờ điều chỉnh.

Đối với những nội dung điều chỉnh không liên quan đến giá, chẳng hạn như các khoản hỗ trợ khác, thì việc áp dụng được thực hiện theo quy định pháp luật tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường ban đầu, bảo đảm tính ổn định và nhất quán của chính sách.

Quy định này thể hiện rõ quan điểm lập pháp tiến bộ của Luật Đất đai mới, khi vừa ngăn chặn nguy cơ người dân bị giảm quyền lợi do thị trường biến động bất lợi, vừa bảo đảm họ được hưởng lợi chính đáng trong trường hợp giá đất, giá tài sản tăng lên, qua đó góp phần tăng cường công bằng, minh bạch và ổn định xã hội trong quá trình thu hồi đất.

Lưu ý: Theo khoản 6 điều 94 Luật đất đai 2024 Trước khi được nhận đầy đủ tiền bồi thường, người có đất bị thu hồi có trách nhiệm hoàn thành các nghĩa vụ tài chính còn tồn đọng đối với Nhà nước liên quan đến đất đai. Trường hợp người được bồi thường vẫn còn nợ các khoản như tiền sử dụng đất, thuế đất hoặc các nghĩa vụ tài chính khác, cơ quan chi trả sẽ thực hiện việc khấu trừ trực tiếp các khoản nợ này vào tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án đã được phê duyệt. Do đó, số tiền thực tế người dân nhận được sẽ được xác định bằng tổng tiền bồi thường, hỗ trợ trừ đi toàn bộ nghĩa vụ tài chính chưa hoàn thành, bảo đảm việc chi trả đúng quy định pháp luật và hài hòa quyền, nghĩa vụ giữa Nhà nước và người sử dụng đất.

Kết luận

Các quy định về kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không chỉ mang ý nghĩa tài chính đơn thuần mà còn phản ánh tính nhân văn và định hướng phát triển bền vững trong chính sách đất đai của Nhà nước. Khi nguồn kinh phí được xác định rõ ràng, quản lý và sử dụng đúng mục đích, người dân có điều kiện ổn định cuộc sống, yên tâm chuyển đến nơi ở mới và tái tạo sinh kế lâu dài. Qua đó, công tác thu hồi đất sẽ nhận được sự đồng thuận cao hơn, hạn chế khiếu nại, tranh chấp, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy sự phát triển hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.