1.Khái niệm phụ lục là gì ?
Phụ lục trong luận văn là một văn bản phụ được trích riêng ở đầu hoặc cuối bài luận nhằm giải thích, chứng minh chi tiết về vấn đề nào đó thay vì sẽ đưa trực tiếp vào bài luận, bao gồm: hình ảnh, biểu đồ, đồ thị, bảng dữ liệu thô, ghi chú, phiếu câu hỏi khảo sát, ….
Các bạn thường ít quan tâm đến định nghĩa của phụ lục vì suy nghĩ đó là một phần trong bài luận văn thì cứ theo mẫu mà thực hiện là sẽ đạt tiêu chuẩn.
Tuy nhiên mỗi loại văn bản khác nhau sẽ cần tạo phụ lục khác nhau. Vì vậy các bạn cần phân biệt để phối hợp nhịp nhàng giữa các kiểu phụ lục để bài luận hoàn chỉnh thuyết phục hơn.
Khái niệm phụ lục hợp đồng là gì?
Theo quy định tại Khoản 1,2 Điều 403 Bộ luật dân sự 2015 có quy định chi tiết về phụ lục hợp đồng:
“Hợp đồng có thể có phụ lục kèm theo để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng.
Như vậy, có thể hiểu: phụ lục của hợp đồng là một phần của hợp đồng. Nó có hiệu lực tương tự như hợp đồng. Nội dung của phụ lục của hợp đồng phù hợp với nội dung của hợp đồng và không được trái với nội dung của hợp đồng. Do được xây dựng và xác lập kèm theo hợp đồng nên nội dung của phụ lục cũng chính là nội dung của hợp đồng, chúng bị ràng buộc và được thực hiện giống như các nội dung khác trong hợp đồng và không thể tách rời.
Một số người nhầm lẫn phụ lục hợp đồng với hợp đồng phụ. Thực chất, phụ lục của hợp đồng không phải là hợp đồng phụ. Hợp đồng phụ là một hợp đồng riêng biệt tách khỏi hợp đồng chính và có hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính. Còn phụ lục hợp đồng là một phần của hợp đồng, hiệu lực của nó tương tự như hiệu lực của hợp đồng mà nó kèm theo. Các bên trong hợp đồng cũng phải thực hiện các nội dung trong phụ lục cùng với nội dung khác trong hợp đồng.
2. Những nội dung được thể hiện trong phụ lục
Phụ lục đa dạng về kiểu văn bản không chỉ đơn thuần là chữ viết hay con số. Trong phụ lục thường xuất hiện với các dạng nội dung sau:
Đồ thị, biểu đồ và hình ảnh
Để đưa ra minh chứng cụ thể cho nội dung trong bài luận, bạn cần sử dụng những đồ thị, bảng biểu chứa đầy đủ những dữ liệu mà bạn thu thập được hoặc từ các nguồn tài liệu tham khảo.
Thường chúng được sắp xếp theo đúng trình tự trong bài luận, được đặt tên theo nội dung và được đánh kèm số thứ tự: Biểu đồ 1: Giao dịch mua bán nhà gần đây;
Dữ liệu thô
Dữ liệu thô là những dữ liệu mà bạn thu thập được nhưng chưa qua phân tích hay xử lý như: thông tin mở rộng, tính toán mẫu, bảng thống kê,… Chúng là những dẫn chứng quan trọng phục vụ cho các lập luận của bạn trong bài viết.
Phiếu câu hỏi khảo sát
Bất cứ nghiên cứu nào cũng được thực hiện dựa trên quá trình khảo sát. Dù bạn khảo sát theo hình thức trực tiếp hay gián tiếp thì bạn cũng phải trình bày lại nội dung các câu hỏi vào phiếu câu hỏi khảo sát.
Các thiết bị bạn sử dụng (email, máy tính, máy ghi âm,…) phục vụ cho quá trình khảo sát cũng nên ghi lại trong phần này để người đọc hình dung ra hoạt động khảo sát của bạn.
Các trường hợp phải ký phụ lục hợp đồng
Theo Điều 403 Bộ luật Dân sự nêu trên, phụ lục được ban hành kèm Hợp đồng khi hợp đồng có một số điều khoản cần được quy định chi tiết hơn:
Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng. Nếu các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi
Đồng thời, Điều 24 Bộ luật Lao động nêu rõ: Phụ lục hợp đồng lao động quy định chi tiết một số điều khoản hoặc để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
Như vậy, hợp đồng không bắt buộc phải có phụ lục mà chỉ có 02 trường hợp hợp đồng cần phải có phụ lục:
- Quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Và nội dung của phụ lục phải không được trái với nội dung của hợp đồng;
- Sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của hợp đồng. Loại phụ lục này thường được lập sau khi hợp đồng được lập nhằm thay đổi, sửa đổi các nội dung ban đầu của hợp đồng…
Phụ lục hợp đồng có thể ký tối đa bao nhiêu lần?
Việc hợp đồng ký kết bao nhiêu phụ lục không được Bộ luật Dân sự quy định cụ thể. Do đó, có thể hiểu, khi các bên đạt được thống nhất về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng hoặc một số điều khoản của hợp đồng cần được quy định chi tiết hơn thì đều có thể lập phụ lục hợp đồng.
Riêng với hợp đồng lao động, Điều 5 Nghị định 05/2015/NĐ-CP nêu rõ: Thời hạn hợp đồng lao động chỉ được sửa đổi một lần bằng phụ lục hợp đồng lao động và không được làm thay đổi loại hợp đồng đã giao kết ngoại trừ việc kéo dài thời hạn hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi và cán bộ công đoàn không chuyên trách.
Như vậy, các loại hợp đồng không giới hạn số lần ký phụ lục hợp đồng ngoại trừ hợp đồng lao động sửa đổi thời hạn hợp đồng lao động chỉ được thực hiện 1 lần.
Trên đây là những giải đáp về phụ lục hợp đồng là gì? Những trường hợp cần ký phụ lục hợp đồng. Các bên khi giao kết cần nắm rõ, tránh nhầm lẫn với hợp đồng phụ.
3.Vị trí thích hợp để đặt phụ lục
Tìm một vị trí để đặt phụ lục là vấn đề cần chú ý để bài luận khi hoàn thiện được thống nhất mạch lạc giữa các phần. Thông thường, phụ lục hay được đặt ở vị trí cuối cùng của bài luận, sau phần tài liệu tham khảo, cũng được liệt kê đánh số trang trong phần mục lục.
Trong một số trường hợp thì có thể linh động đặt lên phía đầu. Với những luận văn cao hơn đặc biệt là dành cho Giáo sư Tiến sĩ, họ có xu hướng đặt phụ lục về cuối bài và dần tạo thành khung dàn ý chung. Sau đó, các cuốn sách được biên soạn xuất bản cũng theo quy tắc này mà đẩy phụ lục tra cứu xuống cuối tạo một thói quen cho các bạn lật cuối sách khi muốn tra cứu.
4. Phụ lục và sửa đổi hợp đồng bảo đảm
Cũng tương tự như hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Hợp đồng có thể có phụ lục kèm theo để quy định chi tiết một sô điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng. Trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp các bên chấp nhân phụ lục hợp đồng có điều khoản trái vổi điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi.
Như vậy, phụ lục của hợp đồng là một bộ phận và là tài liệu kèm theo ngay tại thời điểm ký hợp đồng (khác với phụ lục hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 có nghĩa rộng hơn). Trường hợp sửa đổi, bổ sung hợp đồng thì cần ký lại tương tự như một hợp đồng khác.
Tuy nhiên, trên thực tế và cả một số văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định, các bên vẫn có thể sử dụng phụ lục hợp đồng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng. Ví dụ: Thông tư số 10/2016/TT-BTC quy định, các bên ký “phụ lục hợp đồng thế chấp” khi sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, “hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật”. Các bên có thể thỏa thuận về tên gọi của văn bản khi sửa đổi hợp đồng bảo đảm là hợp đồng, văn bản, biên bản hay tên gọi khác.
Hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu. Quy định này được hiểu là nếu hợp đồng bằng văn bản thì việc sửa đổi cũng phải được làm thành văn bản. Đồng thời mở rộng ra, còn “bị” hiểu là, nếu hợp đồng đã được công chứng, chứng thực thì việc sửa đổi cũng phải được công chứng, chứng thực. Riêng việc có phải đăng ký nội dung sửa đổi hợp đồng hay không được thực hiện theo quy định của pháp luật về việc đăng ký biện pháp bảo đảm.
Đối với các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ của người thứ ba, việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo đảm, ngoài sự thỏa thuận của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm thì còn phải được sự đồng ý của bên được bảo đảm (ngưòi thứ ba) theo quy định sau: “khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện, các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý”. Đúng ra, việc đồng ý của người thứ ba chỉ cần thiết trong trường hợp lợi ích của người đó bị giảm sút, còn đốì với hợp đồng bảo đảm, thì lợi ích của người nhận bảo đảm mới là quyết định; Nhưng vì xu thế tuyệt đối hoá theo lôgích hợp đồng chung, nên vẫn buộc phải cân nhắc thực hiện những quy định không hợp lý, giôhg như việc một người tham gia với hai tư cách trong một hợp đồng bảo đảm.
Bộ luật Dân sự năm 2015 có một điều quy định mới về việc, khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Toà án chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Toà án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lổn hơn so vói các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.
5.Điều kiện về hoàn cảnh thay đổi ?
Được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ 5 điều kiện sau đây:
Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;
Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lưòng trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;
Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưỏng đến lợi ích.
Tuy nhiên, với tính chất là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nên gần như không áp dụng quy định nêu trên đối với hợp đồng bảo đảm. Thậm chí cũng hầu như không có việc hủy bỏ hay đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo đảm