1. Tóm tắt nội dung yêu cầu tư vấn của khách hàng:

Thưa luật sư, Tôi hiện đang là TP.DVKH của 1 ngân hàng TMCP ngoài nhà nước (tạm gọi là ngân hàng F) Tôi có cho Trịnh Thị P vay số tiền 2,3 tỷ đồng (lãi suất thỏa thuận, P có ghi cho tôi 1 tờ giấy nội dung: mượn của tôi 2,3 tỷ đồng). P làm ở chi nhánh BL, tôi làm ở chi nhánh CM. Khi đến hạn trả thì P không có tiền để trả nên đã vay của Nguyễn Văn T là 1,3 tỷ đồng để trả cho tôi. Số tiền còn lại P có ký hợp đồng vay tiền của tôi với lãi suất 1,5%/tháng.

Sau đó do P không có tiền để trả cho T nên T đã tố cáo ra công an vì cho rằng P phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Công an điều tra có thẩm quyền đã tiến hành điều tra P, nhiều lần mời P lên làm việc và gửi thư đến ngân hàng F. Sau đó P bị cho nghỉ việc. Việc P chưa trả hết tiền của tôi và làm việc cùng hệ thống với P nên tôi cũng bị vạ lây.

Sau khi P nghỉ. Đoàn kiểm tra của phòng quản trị rủi ro có xuống làm việc với tôi về 2 nội dung như sau:

1/ Việc cho P mượn tiền, lãi suất thế nào, cho P mượn tiền làm gì, cho mượn nhiều lần ko? quen biết P ra sau,… ( nội dung làm việc xunh quanh về P)

2/ Tài khoản của tôi có nhiều giao dịch ra vô với khách hàng Nguyễn Thị N (tại sao chuyển khỏan thông qua tài khoản của tôi, mà không chuyển thẳng cho người cần chuyển).

Tại thời điểm đó tôi có viết bản tường trình sự việc như sau:

1/ chỗ chị em làm chung hệ thống, chơi với nhau, do tin tưởng nên có cho P mượn số tiền 2,3 tỷ đồng và cũng có cho P mượn nhiều lần trước, cho mượn không lấy lãi. P đã trả tôi được 1,3 tỷ đồng, hiện còn đang nợ 1 tỷ đồng.

2/ Do chị Nguyễn Thị N trước đây là Khách hàng VIP. Sau đó chị về Hà Nội sống, và do tin tưởng,nên chị có chuyển tiền vào tài khoản của tôi để đưa cho người quen của chị. Vì muốn giữ mối quan hệ với khách hàng nên tôi đồng ý giúp. Sau đó tôi có yêu cầu những người nhận tiền của chị N mở tài khoản thanh toán tại nơi tôi đang làm để tôi chuyển khoản cho họ rồi họ tự rút ra. Có 1 số người không mở tài khoản thì tôi rút tiền mặt và đưa cho họ. Tôi có liệt kê 1 số tài khoản mà tôi đã chuyển, trên nội dung chuyển tiền tôi có ghi : “ Nguyễn Thị N chuyển tiền”.

Sau khi đoàn kiểm tra xong các nội dung khác tại chi nhánh thì đoàn ra biên bản kết luận lại các nội dung liên quan đến tôi như sau: (tôi không tham gia chốt biên bản làm việc với đoàn).

1/ Ngọc có quan hệ bất thường với P. cụ thể cho Phượng vay 2,3 tỷ đồng. Hiện P còn đang nợ Ngọc 1 tỷ đồng (P đang bị công an điều tra tội lừa đảo).

2/ Ngọc có nhiều giao dịch bất thường với Nguyễn Thị N là khách hàng của ngân hàng F. Cụ thể:

- Ngọc nhận chuyển tiền hộ cho khách hàng N đến nhiều khách hàng khác có mở tài khoản tại ngân hàng F (chị N chuyển tiền từ tài khoản của chị N đến tài khoản của Ngọc, sau đó Ngọc rút tiền mặt hoặc chuyển khoản tiếp đến một số tài khoản khác – TK của chị N, Ngọc và các khách hàng khác điều mở tại ngân hàng F).

- Một số giao dịch của chị Ngọc có thể hiện việc cho vay với lãi suất 6%/tháng (cụ thể với Khách hàng A,B,C,D)

- Đối với các khoản vay cầm cố sổ tiết kiệm. có hiện tượng TP.DVKH (Ngọc) cho khách hàng mượn tiền (nguồn tiền do KH Nguyễn Thị N chuyển về) để tất toán khoản vay cầm cố sổ tiết kiệm của khách hàng. sau đó KH tất toán sổ tiết kiệm, rút lãi ra, gửi lại và thực hiện vay cầm cốc sổ tiết kiệm lại. Khi thực hiện các bút toán giao dịch đều không có mặt khách hàng, nhân viên thực hiện theo chỉ đạo của Ngọc và khách hàng hoàn thiện chứng từ sau (theo bản tường trình của nhân viên thực hiện và qua giám sát camera). (đoàn không làm việc với tôi về nội dung này).

Sau khi đoàn kiểm tra về, tôi có làm việc với giám đốc về nội dung ghi nhận của đoàn theo biên bản. (tôi có gửi kèm biên bản làm việc với ban giám đốc ngân hàng). Tôi có họp hội đồng kỷ luật, trong cuộc họp hội đồng không nói rõ kết luận vi phạm của tôi theo khoản nào. Chỉ nói là các nội dung vi phạm đã có biên bản làm việc rồi, mọi người cũng đã nắm nên cũng không cần nhắc lại ở đây. Và hội đồng quyết định kỷ luật tôi với hình thức cách chức. nhưng nói sẽ họp lại với giám đốc và xem xét lại hình thức kỷ luật của tôi.

Sau đó hội đồng gửi lại biên bản kỷ luật kêu tôi ký tên, trong đó hội đồng căn cứ dẫn chứng để kỷ luật hành vi vi phạm của tôi theo điểm b khoản 11 điều 29 nội quy lao động của NCB. Cụ thể là : “ lợi dụng vị trí, nhiệm vụ được giao để nhận các lợi ích, vật chất (như tiền hoa hồng, chiết khấu, giảm giá hoặc các hình thức tương tự) của đối tượng giao dịch với ngân hàng F”. (Biên bản kỷ luật đính kèm)

Câu hỏi:

1. Đối với hành vi vi phạm của tôi căn cứ vào điều khoản kỷ luật này là đúng hay sai. Vì tôi không nhận bất cứ lợi ích nào từ khách hàng giao dịch. Và tôi là sai quy trình là giao dịch khi không có mặt khách hàng nhưng không gây ra thiệt hại nào cho ngân hàng. Tôi đã phản hồi nội dung kỷ luật vể giám đốc là tôi không đồng ý ký tên với điều khoản vi phạm này, vì tôi không nhân bất kỳ lợi ích nào, cái tôi làm là để phục vụ khách hàng, không vì lợi ích cá nhân. Đoàn kiểm tra cũng không hề trao đổi với tôi về nội dung này mà đã kết luận tôi nhận lợi ích từ đối tượng giao dịch.

2. Sau khi giám đốc trao đổi với hội đồng kỷ luật thì nội dung biên bản thêm vào 1 câu là bố trí chức vụ của tôi lại là quyền trưởng phòng, thời gian thử thách là 6 tháng. Vẫn không thay đổi điều khoản vi phạm của tôi. Giám đốc có nói thêm là cái căn cứ xử phạt không quan trọng, quan trọng là xử lý kỷ luật tôi như thế nào thôi. Tôi muốn hỏi điều này là đúng hay sai?

3. Nếu tôi ký vào biên bản này thì có ảnh hưởng gì không? Tôi có bị thưa kiện về tội nhận hối lộ không?

Cảm ơn luật sư!

2. Luật sư tư vấn:

2.1 Việc cách chức như thế nào mới đúng luật?

1. Theo thông tin Quý khách cung cấp, tại Biên bản họp xem xét xử lý vi phạm kỷ luật lao động đối với nhân sự thuộc chi nhánh CM, ngân hàng F đã áp dụng hình thức kỷ luật cách chức đối với bà T.T.N – TP. PDVKH CM- Chi nhánh CM, căn cứ điểm b, khoản 11, Điều 29 Nội Quy lao động NCB ban hành kèm theo Quyết định số 50/2017/QĐ-HĐQT ngày 04/07/2017. Cụ thể điểm b, khoản 11, Điều 29 Nội quy lao động NCB quy định:

“lợi dụng vị trí, nhiệm vụ được giao để nhận các lợi ích, vật chất (như tiền hoa hồng, chiết khấu, giảm giá hoặc các hình thức tương tự) của đối tượng giao dịch với ngân hàng F”.

Quan hệ giữa Quý khách và Ngân hàng F là quan hệ hợp đồng do Bộ luật lao động điều chỉnh, trong đó Điều 6 Bộ luật lao động có quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động – Ngân hàng F như sau:

1. Người sử dụng lao động có các quyền sau đây:

a) Tuyển dụng, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh; khen thưởng và xử lý vi phạm kỷ luật lao động;…

2. Người sử dụng lao động có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và thoả thuận khác với người lao động, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động;…”

Tương ứng với quyền, nghĩa vụ của người sử dụng lao động là nghĩa vụ và quyền của người lao động:

Đồng thời, người lao động cũng có các nghĩa vụ và quyền tương ứng, được quy định tại Điều 5 Bộ luật lao động:

1. Người lao động có các quyền sau đây:

a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;

b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;…

2. Người lao động có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể;

b) Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động;

c) Thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế.”

Do vậy, trước tiên Quý khách có nghĩa vụ chấp hành theo quy định, nội quy của Công ty. Trường hợp nội quy của Công ty không quy định về nghĩa vụ thì chấp hành theo quy định của pháp luật. Quý khách không cung cấp toàn văn Nội quy lao động của Ngân hàng F, nên căn cứ theo quy định của pháp luật lao động, về nguyên tắc xử lý kỷ luật lao động thì:

- Người sử dụng lao động phải chứng minh được lỗi của người lao động;

- Phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở;

>> Xem thêm:  Quy định về xử lý kỷ luật bằng hình thức nhắc nhở bằng văn bản ? Cách viết đơn xin nghỉ việc ?

- Người lao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa;

- Đồng thời, việc xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản. (Điều 123 Bộ luật lao động).

Như vậy, nghĩa vụ chứng minh lỗi của người lao động thuộc về người sử dụng lao động. Quý khách có thể yêu cầu Ngân hàng F đưa ra những bằng chứng cụ thể về lỗi của mình. Đồng thời xem xét mức độ lỗi (nếu có) để đưa ra hình thức kỷ luật phù hợp với Nội quy lao động và pháp luật.

Nếu theo đúng nội dung Quý khách đã giải trình với Đoàn kiểm tra, Giám đốc của Ngân hàng F:

- Việc cho vay mượn tiền giữa Quý khách và bà Trịnh Thị P, nhân viên Linh, Nhã là do thân quen, chị em giúp đỡ nhau khi cần hoặc cho vay mượn tiền với KH A, B, C, D thì đây chỉ là quan hệ vay mượn dân sự thông thường. Quý khách không sử dụng tài sản của Ngân hàng vào mục đích cho vay, mượn này, hay không có hành vi dựa vào vị trí công việc cho vay nhằm mục đích mang lại bất kỳ lợi ích, vật chất nào cho mình thì việc Ngân hàng áp dụng điểm b, khoản 11, Điều 29 Nội quy lao động NCB là chưa đầy đủ cơ sở.

- Việc thực hiện các bút toán giao dịch trong khi khách hàng không có mặt trực tiếp tại Ngân hàng, khách hàng hoàn thiện chứng từ sau, không đảm bảo đúng quy trình giao dịch: Ngân hàng đưa ra căn cứ dựa trên bản tường trình của giao dịch viên, qua giám sát camera nhưng không trao đổi với Quý khách. Nên Quý khách có quyền đề nghị Ngân hàng cung cấp các bằng chứng liên quan (như tường trình của các giao dịch viên, trích xuất camera,..) để bảo vệ quyền lợi của mình. Trường hợp có bằng chứng xác đáng thì tùy thuộc mức độ lỗi của hành vi vi phạm, căn cứ điều khoản trong Nội quy lao động của Ngân hàng F để xác định mức xử lý kỷ luật nào là phù hợp.

- Việc thực hiện nhiều giao dịch chuyển khoản hộ cho khách hàng Nguyễn Thị N đến một số khách hàng khác có mở tài khoản tại ngân hàng: Ngân hàng F cũng cần có chứng cứ cụ thể chứng minh việc Quý khách đang nhận bất kỳ lợi ích vật chất nào thông qua giao dịch dân sự này (có thể trao đổi trực tiếp với bà Nguyễn Thị N,… để làm rõ sự việc). Nếu không có bằng chứng chứng minh về lợi ích mà Quý khách nhận được từ những người này thì cũng chưa đủ cơ sở để kết luận Quý khách vi phạm điểm b, khoản 11, Điều 29 Nội quy lao động NCB.

2.2 Nội quy lao động là cơ sở xử lý kỷ luật khi nào?

Như phân tích ở câu 1, Ngân hàng F cần phải chứng minh được lỗi và mức độ lỗi của Quý khách trong việc vi phạm các quy định, Nội quy lao động của Ngân hàng. Đồng thời phải căn cứ mức độ lỗi của hành vi vi phạm để áp dụng hình thức xử lý kỷ luật phù hợp. Trường hợp cho rằng mức độ lỗi chưa đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật là cách chức thì Quý khách có quyền khiếu nại tới Ngân hàng hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi của mình.

Căn cứ Điều 33 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định khiếu nại về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất như sau:

>> Xem thêm:  Tư vấn xây dựng quy chế cho doanh nghiệp

1. Người bị xử lý kỷ luật lao động, bị tạm đình chỉ công việc hoặc phải bồi thường theo chế độ trách nhiệm vật chất nếu thấy không thỏa đáng thì có đơn khiếu nại với người sử dụng lao động, với cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân theo trình tự quy định tại Điều 201 của Bộ luật Lao động.

2. Người sử dụng lao động phải hủy bỏ hoặc ban hành quyết định thay thế quyết định đã ban hành và thông báo đến người lao động trong phạm vi doanh nghiệp biết khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại kết luận khác với nội dung quyết định xử lý kỷ luật lao động hoặc quyết định tạm đình chỉ công việc hoặc quyết định bồi thường theo chế độ trách nhiệm vật chất của người sử dụng lao động.

3. Người sử dụng lao động phải khôi phục quyền và lợi ích của người lao động bị vi phạm do quyết định xử lý kỷ luật lao động hoặc quyết định tạm đình chỉ công việc hoặc quyết định bồi thường thiệt hại của người sử dụng lao động. Trường hợp kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải trái pháp luật thì người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện các quy định các Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 42 của Bộ luật Lao động.”

Như vậy, ngoài các chức danh được liệt kê theo quy định trên thì căn cứ quy định tại Điều lệ Công ty để xác định các chức danh quản lý khác. Quý khách không cung cấp Điều lệ Ngân hàng và các văn bản liên quan tới việc bổ nhiệm các chức danh quản lý khác của Ngân hàng nên chưa rõ chức vụ “Quyền trưởng phòng” có được quy định cụ thể trong Điều lệ Ngân hàng và các văn bản liên quan hay không. Nếu có quy định cụ thể thì căn cứ quy định đó để biết được nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của chức vụ này khi xử lý công việc.

Trường hợp, chức vụ “Quyền trưởng phòng” không được quy định cụ thể trong Điều lệ Ngân hàng và các văn bản liên quan thì thông thường chức vụ này được hiểu là tạm thời thay Trưởng phòng giải quyết, chịu trách nhiệm về các công việc liên quan trong một khoảng thời gian nhất định. Cho đến khi Trưởng phòng mới được bổ nhiệm thì Quý khách sẽ không được tiếp tục giữ chức vụ này nữa. Mọi quyền lợi sẽ bị thay đổi và phụ thuộc vào vị trí công tác mới của Quý khách. Việc này sẽ làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của Quý khách nếu Ngân hàng áp dụng hình thức kỷ luật không phù hợp với mức độ phạm lỗi của Quý khách (nếu có).

2.3 Biên bản xử lý kỷ luật phải như thế nào?

Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động là cơ sở để đưa ra quyết định xử lý kỷ luật lao động. Ký biên bản xử lý kỷ luật đồng nghĩa với việc Quý khách đồng ý về nội dung của sự việc, các ý kiến giải trình, cách giải quyết vụ việc của Ngân hàng được ghi nhận trong Biên bản. Ngân hàng căn cứ vào Biên bản xử lý vi phạm kỷ luật lao động này để ra quyết định xử lý kỷ luật lao động đối với Quý khách.

Điều 354, Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội nhận hối lộ như sau:

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào sau đây cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Lợi ích phi vật chất….”

Các yếu tố cấu thành tội hối lộ gồm: chủ thể, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan. Trong đó:

- Khách thể của tội phạm là xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn, uy tín của các cơ quan, tổ chức, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

- Chủ thể của tội phạm này chỉ có thể là người có chức vụ quyền hạn đã sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để nhận hối lộ.

- Mặt chủ quan của tội phạm: người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Họ nhận thức được hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để làm hay không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ là nguy hiểm cho xã hội, mong muốn làm hoặc không làm việc đó nhằm mục đích nhận được lợi ích vật chất, tinh thần nào đó đã thỏa thuận trước với người đưa hối lộ.

- Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở một trong các hành vi sau:

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký nội quy, thang bảng lương lao động mới nhất năm 2020 ?

+ Nhận hối lộ để làm một việc hoặc không làm một việc thuộc trách nhiệm của mình vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

+ Thủ đoạn và hình thưc nhận hối lộ cũng như tài sản dùng để hối lộ rất đa dạng, phong phú. Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội cần xác định người đó trực tiếp hoặc qua trung gian (qua bưu điện, qua người thứ ba dưới bất kỳ hình thức nào như quà biếu, cho vay, trả nợ, tiền thù lao,…) nhận hoặc sẽ nhận lợi ích đó.

+ Của hối lộ có thể là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác, cũng có thể là lợi ích phi vật chất,…

+ Sự thỏa thuận trước về việc đưa và nhận hối lộ giữa người nhận hối lộ và người đưa hối lộ là một dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Nếu hai bên không có sự thỏa thuận trước về việc giao và nhận hối lộ thì hành vi không cấu thành tội phạm. Sự thỏa thuận này có thể thực hiện dưới nhiều hình thức: bằng lời nói, văn bản, trao đổi gián tiếp hay trực tiếp, công khai hay thỏa thuận ngầm,… Dù hình thức nào thì sự thỏa thuận đó cũng phải đạt được mục đích là người có chức vụ, quyền hạn đồng ý làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.

+ Hành vi nhận hối lộ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi số tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên; Hoặc người phạm tội đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương XXIII Bộ luật hình sự mà chưa được xóa án tích; Hoặc người phạm tội nhận bất kỳ lợi ích phi vật chất nào khác.

+ Tội phạm hoàn thành kể từ thời điểm người có chức vụ, quyền hạn đồng ý nhận của hối lộ không phụ thuộc vào việc đã nhận hay chưa nhận của hối lộ.

Như phân tích trên, cần phải căn cứ vào hành vi, tính chất, mức độ vi phạm của tội phạm, căn cứ các bằng chứng, chứng cứ cụ thể mới có thể kết luận được Quý khách có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ hay không. Chỉ dựa vào thông tin Quý khách cung cấp thì chưa đủ cơ sở. Bên cạnh đó, trách nhiệm chứng minh một người là tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người phạm tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn cách xử lý kỷ luật nhân viên hợp pháp khi có thái độ, tiết lộ thông tin nhạy cảm của lãnh đạo ?