1. Quy trình, thủ tục sáp nhập doanh nghiệp mới nhất ?

Chào luật sư, em có vấn đề như sau nhờ luật sư giải đáp: em là bên khu công nghiệp có kí hợp đồng cho thuê đất với công ty A, bây giờ công ty A (công ty bị sáp nhập) sẽ sáp nhập vào công ty B ở ngoài khu công nghiệp.
Sau khi thực hiện thủ tục sáp nhập xong công ty nhận sáp nhập là công ty B sẽ tiến hành đổi tên và chuyển địa điểm thì bên em có phải ký lại hợp đồng với công ty B hay không?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Điều 195 Luật Doanh nghiệp năm 2014 có quy định Sáp nhập doanh nghiệp là Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.

Cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.

2.1. Thủ tục sáp nhập công ty được quy định như sau:

- Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực hiện sáp nhập;

- Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của Luật này. Hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua;

- Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập.

2.2. Hồ sơ, trình tự đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập: bản sao các giấy tờ sau đây:

- Hợp đồng sáp nhập;

- Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty nhận sáp nhập;

- Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty bị sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập.

Cơ quan đăng ký kinh doanh tiến hành cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho công ty nhận sáp nhập.

Trường hợp công ty bị sáp nhập có địa chỉ trụ sở chính ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính công ty nhận sáp nhập thì Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công ty nhận sáp nhập thông báo việc đăng ký doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở chính công ty bị sáp nhập để cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốcgia về đăng ký doanh nghiệp.

Như vậy, trong trường hợp này của bạn, khu công nghiệp của bạn ký hợp đồng cho thuê đất với công ty A là công ty bị sáp nhập, thì nếu tại thời điểm A sáp nhập vào công ty B mà hợp đồng cho thuê giữa bên bạn với A còn hiệu lực, còn thời gian thực hiện theo thỏa thuận trong hợp đồng thì B sẽ có nghĩa vụ tiếp tục duy trì hợp đồng này cho đến khi hợp đồng hết hạn. Việc chuyển giao nghĩa vụ từ A sang B khi sáp nhập sẽ được thể hiện trong hợp đồng sáp nhập giữa 2 công ty này. Công ty bạn có thể ký phụ lục hợp đồng hoặc ký lại một hợp đồng mới với công ty B tùy theo sự thỏa thuận của các bên.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn về thủ tục và chi phí sáp nhập Công ty ? Cần làm gì để mua lại thành công một công ty ?

2. Thủ tục sáp nhập công ty như thế nào ?

Chào Luật sư, Em có việc cần anh tư vấn chút. lâu rồi không cập nhật các thông tư hướng dẫn nên không nắm rõ thủ tục như thế nào cả.

Hiện nay em đang làm việc cho một công ty cổ phần 100% vốn đầu tư nước ngoài (Công ty A). Toàn bộ cổ phần được nắm bởi 3 cổ đông, công ty này đã hoạt động trên 5 năm tại Việt Nam Trong tháng 09 vừa rồi cũng 03 cổ đông này có nhận chuyển nhượng 100% cổ phần của các cổ đông Việt Nam tại một Doanh nghiệp mới (Công ty B) và tiến hành các thủ tục thay đổi loại hình doanh nghiệp (sang FDI) thành công ty cổ phần tập đoàn, thay đổi tên công ty, người đại diện PL, thay đổi Giấy chứng nhận ĐKKD... Công ty B có dự án, quỹ đất, giấy phép đầu tư... nhưng chưa triển khai Hiện nay em muốn sát nhập Công ty A vào công ty B, anh xem tư vấn giúp em các thủ tục như thế nào với. Mặt khác khi nhập về công ty B để triển khai dự án thì em vẫn muốn có cách nào đó giữ lại lịch sử của công ty A (sẽ làm việc với ngân hàng dễ hơn) ?

Em cảm ơn!

thủ tục sáp nhập công ty như thế nào theo quy định của pháp luật ?

Luật sư tư vấn luật Doanh nghiệp gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 195 Luật Doanh nghiệp năm 2014Nghị định 102/2010/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp có quy định cụ thể như sau:

Điều 195. Sáp nhập doanh nghiệp

1. Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

2. Thủ tục sáp nhập công ty được quy định như sau:

a) Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực hiện sáp nhập;

b) Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của Luật này. Hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua;

c) Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập.

3. Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.

Cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.

4. Hồ sơ, trình tự đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập thực hiện theo các quy định tương ứng của Luật này và phải kèm theo bản sao các giấy tờ sau đây:

a) Hợp đồng sáp nhập;

b) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty nhận sáp nhập;

c) Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng sáp nhập của các công ty bị sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty bị sáp nhập.

5. Cơ quan đăng ký kinh doanh tiến hành cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho công ty nhận sáp nhập.

Trường hợp công ty bị sáp nhập có địa chỉ trụ sở chính ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi đặt trụ sở chính công ty nhận sáp nhập thì Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công ty nhận sáp nhập thông báo việc đăng ký doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở chính công ty bị sáp nhập để cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Về thủ tục sáp nhập Công ty được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 195 như trên. Trường hợp bạn muốn giữ lại lịch sử của Công ty, nếu Công ty của bạn là công ty bị sáp nhập thì bạn phải thực hiện thủ tục đăng ký chấm dứt tồn tại của Công ty để chấm dứt sự tồn tại của Công ty. Khi đó Công ty bạn sẽ không có tư cách pháp lý để tham gia vào các giao dịch trên thực tế. Trường hợp công ty của bạn là công ty nhận sáp nhập thì việc giữ lại lịch sử của công ty hay thay đổi là do ban giám đốc của Công ty bạn quyết định.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin tưởng sử dụng dịch vụ của Công ty chúng tôi. Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Thủ tục mua bán, sáp nhập doanh nghiệp thực hiện thế nào ? Cách lập hồ sơ xin sáp nhập công ty ?

3. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ?

Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được áp dụng khá hiệu quả trên thế giới là thông qua thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (M&A). Thông qua thị trường M&A, nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn hình thức đầu tư: (a) Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý hoạt động đầu tư...

(b) Mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động, (c) Mua cổ phiếu để thâu tóm hoặc sáp nhập doanh nghiệp trên thị trường, (d) hợp nhất, sáp nhập với doanh nghiệp ở nước có dự định đầu tư.

Trên thế giới, việc tạo ra môi trường và hành lang pháp lý đồng bộ cho việc thu hút FDI đều được các nước chú trọng, tạo ra những điều kiện tốt nhất cho thị trường M&A phát triển. Với giá trị lên đến hàng ngàn tỷ USD mỗi năm, thị trường M&A không chỉ là kênh hút vốn của Nhà nước, doanh nghiệp mà còn tạo ra cơ hội cho nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường quốc gia dự định đầu tư một cách nhanh nhất, tiết kiệm được chi phí lớn nhất. Vì vậy, FDI và M&A có mối quan hệ biện chứng, việc hút lượng FDI nhiều hay ít phụ thuộc không nhỏ vào việc thiết lập, vận hành và phát triển thị trường M&A, và ngược lại M&A là giúp cho FDI xâm nhập nhanh nhất vào thị trường, bài viết này xin giới thiệu về một số khía cạnh liên quan đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Quy trình và thủ tục sáp nhập doanh nghiệp mới nhất

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài - Ảnh minh họa

1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới và Việt Nam

1.1. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp trên thế giới.

Theo thống kê từ Tổ chức Thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNTACD), kể từ năm 2004 đến năm 2006, thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng liên tục, giá trị vốn FDI của năm 2005 trên thế giới là 916,3 tỷ USD, tăng 29% so với năm 2004, giá trị vốn FDI của năm 2006 đạt trên 1200 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2005, 6 tháng đầu năm 2007, lượng vốn FDI của thế giới cũng đã vượt ngưỡng 700 tỷ USD. Nguồn vốn FDI đi qua nhiều kênh khác nhau, trong đó kênh mua bán sáp nhập doanh nghiệp (M&A) góp phần quan trọng vào việc gia tăng số lượng và giá trị của lượng FDI trên toàn cầu. Theo những đánh giá của Thomson và PricewaterhouseCoopers’ (PwC) thì tổng giá trị M&A trong năm 2006 đã lên đến gần 3500 tỷ USD với gần 40.000 vụ, xu hướng cổ phần hoá, tư nhân hoá đang diễn ra tại các nước phát triển và đang phát triển là những cơ sở quan trọng cho thị trường M&A bùng nổ.

Thống kê của Thomson trong quý 2/2007 cho thấy, tổng giá trị của những vụ M&A trên thế giới trong 6 tháng đầu năm 2007 là trên 2500 tỷ USD với mức tăng trưởng bùng nổ lên đến con số 53%. Giá trị giao dịch M&A của các khu vực trên thế giới đã tăng, khu vực Châu Âu đạt 1056 tỷ USD, khu vực Châu á – Thái Bình Dương đạt 230 tỷ USD, Khu vực Châu Phi, Trung Đông là 28 tỷ USD, Khu vực Châu Mỹ là 1270 tỷ USD, Nhật Bản là 70 tỷ USD Một trong những đánh giá quan trọng của UNTACD là: giá trị FDI gia tăng đột biến trong những năm vừa qua phụ thuộc không nhỏ vào mức độ ngày càng gia tăng của hoạt động M&A, xu hướng M&A qua biên giới ngày càng gia tăng sẽ kéo theo tốc độ gia tăng của FDI, đặc biệt tại các nước đang phát triển.

1.2. Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài và mua bán sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam

Trong những năm vừa qua, lượng FDI đổ vào Việt Nam khá lớn, tổng số vốn FDI đăng ký đầu tư tại Việt Nam kể từ năm 2001 đến nay vào khoảng trên 25 tỷ USD và có chiều hướng tăng dần, nếu như năm 2005 lượng vốn đăng ký chỉ đạt 4,2 tỷ USD thì năm 2006 cả nước thu hút được 10,2 tỷ USD, tăng 45,1% so với năm trước, tổng số dự án cấp trong 6 tháng đầu năm 2007 là 575 dự án với tổng vốn đầu tư là 4,3 tỷ USD. Tuy nhiên, lượng vốn FDI này chủ yếu được đầu tư thông qua các hình thức đầu tư như thành lập doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài (khoảng 6000 doanh nghiệp FDI), hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc đầu tư thông qua các dự án BOT, BTO và chỉ có một ít vốn FDI được đầu tư vào Việt Nam dưới hình thức M&A do các quỹ đầu tư, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt nam đổ vốn đầu tư tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian vừa qua. Điều này là một thực tế, bởi vì giao dịch M&A ở Việt Nam còn khá mới mẻ, số vụ và giá trị giao dịch M&A còn thấp, kể từ năm 2000 lại đây chỉ đạt trung bình là 20 vụ/năm với giá trị khoảng từ 250 triệu USD/năm, trong đó lượng FDI qua hình thức M&A không được thống kê chính thức nhưng chắc chắn là rất nhỏ.

Trong thời gian vừa qua thị trường M&A đã phát triển nhanh chóng, nếu như trong trong năm 2005 có 18 vụ với tổng giá trị là 61 triệu USD; năm 2006, số vụ M&A là 32 với tổng giá trị là 245 triệu USD thì chỉ trong sáu tháng đầu năm 2007, Việt Nam có 46 vụ M&A đạt giá trị 625 triệu USD (gấp đôi năm 2006 và gấp 15 lần cùng kỳ năm ngoái), có 16 vụ trong nước và 30 vụ có yếu tố nước ngoài, trong đó các công ty nước ngoài mua bán, sáp nhập chủ yếu đến từ các nước Châu á (22 vụ). Những vụ M&A điển hình trong thời gian qua là Công ty cổ phần doanh nghiệp trẻ Đồng Nai mua lại Cheerfield Rama, Daiichi mua lại Bảo Minh CMG, Kinh Đô mua lại Kem Wall, Anco mua lại nhà máy sữa của Nestle. Theo dự báo của các chuyên gia trong những năm tới sự phát triển của thị trường M&A Việt Nam là một tất yếu sẽ hút thêm được các luồng vốn FDI từ các nước trong và ngoài khu vực cho nền kinh tế Việt Nam.

2. Ưu điểm, nhược điểm của việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp.

2.1. Ưu điểm:

(i) Các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tiếp cận thị trường quốc gia dự định đầu tư một cách nhanh nhất thông qua thị trường có sẵn của các công ty bị mua, bị sáp nhập mà không cần phải bỏ chi phí ban đầu ra để nghiên cứu, tiếp cận thị trường. Ngoài ra, các giá trị khác của công ty bị mua, bị sáp nhập ở quốc gia dự định đầu tư như thương hiệu, thị phần, thị trường, nguồn nhân lực, kinh nghiệm, thiết bị sẽ là những cơ sở, lợi thế kinh doanh quan trọng để nhà đầu tư có được quyết định đầu tư chính xác và có thể đem lại hiệu quả đầu tư cao. Vì vậy, việc nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư thông qua việc mua bán, sáp nhập DN ở quốc gia dự định đầu tư chắc chắn sẽ có nhiều lợi thế nhất định so với các hình thức đầu tư trực tiếp khác như thành lập doanh nghiệp, hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Hiện nay, với tư cách là một hình thức tập trung kinh tế, tập trung nguồn lực, đầu tư thông qua M&A sẽ tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ, tạo ra một nguồn lực lớn hơn cạnh tranh. Hơn nữa, với sự kết hợp ngoại sinh này sẽ làm cho các tập đoàn đa quốc gia, các công ty lớn trên thế giới tăng thêm sức mạnh trong kinh doanh, cạnh tranh tại một thị trường mới, đồng thời cũng là một sự đảm bảo về uy tín trong kinh doanh cho các công bị bị mua lại, bị sáp nhập. Vì vậy, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này, chẳng hạn có một số tập đoàn tài chính, ngân hàng, bảo hiểm lớn trên thế giới như HSBC mua lại 10% của Techcombank, 10% vốn của Bảo Việt, Satra Group mua 1 triệu cổ phiếu với giá 80 tỷ đồng của Ngân hàng Phương Nam, Daichi mua lại Bảo Minh, APEC Investment đầu tư gần 100 tỷ vào Tập đoàn Hoà Phát là những ví dụ cho thấy xu hướng này đã, đang và sẽ phát triển nhanh chóng ở Việt Nam trong thời gian tới.

(iii) Các Doanh nghiệp bị sáp nhập, bị mua lại sẽ thu được rất nhiều lợi ích thông qua hình thức đầu tư bằng M&A, bởi với nguồn lực tài chính lớn mạnh, thương hiệu, kinh nghiệm quản trị từ bên ngoài được đầu tư trực tiếp vào Doanh nghiệp, thông qua M&A thực hiện được việc tái cấu trúc doanh nghiệp trên nhiều phương diện, làm tăng giá trị của Doanh nghiệp mới sau khi được mua lại, sáp nhập. Chủ sở hữu Doanh nghiệp có thể thu được một khoản lợi ích nhất định, từ việc bán Doanh nghiệp, bán cơ sở kinh doanh của mình cho nhà đầu tư nước ngoài. Đối với Việt Nam việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư thông qua việc mua lại, sáp nhập với các Doanh nghiệp trong nước sẽ mang lại nhiều lợi ích và nâng giá trị của Doanh nghiệp. Bởi vì mặc dù Việt Nam đang có khoảng 250.000 Doanh nghiệp đăng ký hoạt động nhưng có đến 97% là Doanh nghiệp nhỏ và vừa với số vốn điều lệ chưa vượt quá 3 triệu USD. Nhiều điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam thể hiện trong 6 chữ M của tiếng Anh là Money (Vốn), Machinery (Máy móc, công nghệ), Materials (Nguyên vật liệu), Man Power (Nhân lực), Management (quản trị) và Marketing (Tiếp cận thị trường).

2.2. Nhược điểm:

(i) Trong các vụ đầu tư qua thị trường M&A, nhà đầu tư quan tâm đối với giá trị và hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp mình dự định đầu tư, nhưng thẩm định giá trị và hồ sơ pháp lý không phải là việc dễ đối với các doanh nghiệp đến từ nước ngoài. Hơn nữa, tính minh bạch của các Doanh nghiệp bị mua, bị sáp nhập cũng có thể chưa cao sẽ dẫn đến việc lừa nhau về mặt giá trị, rủi ro pháp lý có thể xảy ra bất cứ khi nào trong thương vụ M&A. (a) Việc thẩm định giá trị của cả công ty mua, sáp nhập và công ty bị mua lại, bị sáp nhập là vấn đề quan trọng, liên quan đến “túi tiền” và lợi ích của cả hai bên, vì rằng, lợi ích là cái mà cả hai bên hướng tới. Thông thường, cả hai bên trong thương vụ M&A đều có cách đánh giá lẫn nhau về giá trị công ty mục tiêu và thường là đi ngược nhau trong việc đánh giá này. Do đó, kiểm toán viên, thẩm định viên về tài sản có vị trí quan trọng ở khâu này để đưa ra một mức giá khách quan, trung thực đáp ứng được mong mỏi của cả hai bên. Trên thế giới, có một số phương thức thẩm định giá trị công ty như tỷ suất P/E, tỷ suất giá trị doanh nghiệp trên doanh thu (EV/Sales), chi phí thay thế (M&A dựa trên việc cân nhắc yếu tố chi phí để thiết lập một công ty từ đầu so với một công ty có sẵn), phương pháp chiếu khấu dòng tiền (DCF) (b) Thẩm định hồ sơ pháp lý của hai bên trong một thương vụ M&A cũng không phải là việc dễ, bởi vì ngoài việc thẩm định các hồ sơ hiện hữu, kiểm soát được các quyền và nghĩa vụ liên quan, người thẩm định còn phải dự liệu các rủi ro pháp lý có thể xảy ra thời kỳ “hậu” M&A. Vì vậy, cần phải có sự tham vấn, tư vấn từ luật sư chuyên nghiệp về M&A cho việc thẩm định hồ sơ pháp lý.

(ii) Do M&A là một hình thức tập trung kinh tế, do đó nếu nhà đầu tư nước ngoài không nghiên cứu kỹ pháp luật cạnh tranh, chống đc quyền cho thương vụ đầu tư bằng hình thức M&A, thì nó có thể rơi vào (a) trường hợp cấm thực hiện các hành vi tập trung kinh tế (trong đó có M&A) nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia M&A chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ sau khi M&A vẫn là Doanh nghiệp nhỏ và vừa, (b) trường hợp phải có nghĩa vụ thông báo trước cho Cục quản lý cạnh tranh nếu việc đầu tư bằng M&A có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan, trừ sau khi M&A vẫn là doanh nghiệp nhỏ và vừa nếu vi phạm các quy định đó, doanh nghiệp đầu tư thông qua M&A có thể sẽ phải chịu các hình thức xử lý, các biện pháp của pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền, và có thể bị khởi kiện bất cứ khi nào. Đây chính là một nhược điểm lớn của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài qua thị trường M&A.

(iv) Sự am hiểu về văn hoá, phong tục, thị trường, pháp luật Việt Nam còn ít, do đó nhiều vấn đề có thể phát sinh trong và sau quá trình M&A. Việc giải quyết các vấn đề hậu M&A có thể là một cản trở đối với việc hút vốn qua kênh đầu tư này như giảm nhân viên, giảm lương, đào tạo lại, sắp xếp, thuyên chuyển…

3. Hành lang pháp lý về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam

Để tạo ra một hành lang pháp lý cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước cũng như Việt Nam đều phải có những thay đổi về mặt chính sách như việc áp dụng các nguyên tắc, tập quán quốc tế về sự bình đẳng, công bằng.. trong kinh doanh nói chung, đầu tư nói riêng. Đồng thời đặt ra các hình thức, điều kiện, lĩnh vực, khu vực khuyến khích, hạn chế thu hút đầu tư, trong đó có việc tạo hành lang pháp lý ghi nhận hình thức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.

Theo Báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam năm 2006, do Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam công bố ngày 15/09/2007 vừa qua thì tính đến hết năm 2006 chúng ta có 253.130 doanh nghiệp đăng ký hoạt động. Những năm vừa qua, để đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế và xu thế hội nhập, nhiều đạo luật quan trọng liên quan đã được ban hành. Chẳng hạn Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006 việc ban hành các đạo luật nói trên đã đáp ứng được nhu cầu xác lập vị trí pháp lý, điều tiết các quan hệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài của các loại doanh nghiệp nói chung, trong đó có M&A nói riêng. Trước khi có Luật đầu tư năm 2005, hoạt động đầu tư FDI thông qua M&A được quy định trong một số điều khoản, M&A các doanh nghiệp tư nhân (Điều 103 Luật Doanh nghiệp 1999), M&A các doanh nghiệp nhà nước trong Nghị định 103/1999/NĐ-CP; Nghị định số 80/2005/NĐ-CP của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh Doanh nghiệp nhà nước Hiện nay, giao dịch M&A được Luật Doanh nghiệp ghi nhận, tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ hơn, cho phép các chủ doanh nghiệp được quyền định đoạt doanh nghiệp trong việc mua bán, sáp nhập, hợp nhất (Điều 145, Điều 152, Điều 153 Luật Doanh nghiệp).

Luật Đầu tư năm 2005 đã kế thừa và ghi nhận M&A là một hình thức đầu tư quan trọng, cụ thể: “Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp” như một trong những hình thức đầu tư trực tiếp, dưới các hình thức:

(i) Đóng góp vốn để thành lập doanh nghiệp mới hoặc để tham gia quản lý hoạt động đầu tư,

(ii) Mua toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động,

(iii) Mua cổ phiếu để thâu tóm hoặc sáp nhập doanh nghiệp.

Mặc dù hành lang pháp lý liên quan đến M&A còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, thống nhất, tuy nhiên những quy định pháp luật hiện hành là cơ sở quan trọng góp phần thúc đẩy thị trường M&A nói chung, thu hút FDI qua thị trường M&A nói riêng. Do đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận M&A là một hình thức đầu tư, mà còn phải xây dựng được các quy định điều tiết các vấn đề cụ thể, đặt trong mối quan hệ giữa luật đầu tư với pháp luật có liên quan như Luật Doanh nghiệp, Luật cạnh tranh, Luật chứng khoán. Có như vậy hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua hình thức M&A mới đạt được hiệu quả cao, đồng thời giải đáp được các vấn đề thị phần, thị trường, giới hạn, tỷ lệ phần trăm vốn mà nhà đầu tư đặt ra khi dự định đầu tư vào một doanh nghiệp Việt Nam thông qua hình thức này.

Luật Minh Khuê (biên tập)

>> Xem thêm:  Trình tự, thủ tục sáp nhập doanh nghiệp ? Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nhận sáp nhập ?

4. Có nên điều tra chi tiết trước khi mua bán, sáp nhập công ty ?

Ở Việt Nam, hoạt động mua bán và sáp nhập doanh nghiệp (Merger and Acquisition – M&A) được dự báo là sẽ ngày càng sôi động, đặc biệt trong bối cảnh suy thoái kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, M&A là hoạt động đầy rủi ro. Một số thống kê của các hãng tư vấn nổi tiếng thế giới cho thấy khoảng hai phần ba các vụ M&A thất bại.

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Giao dịch rủi ro

Chúng ta đã từng “sốc” khi nghe tin doanh nghiệp cổ phần Doanh nghiệp trẻ Đồng Nai (Dona Corp) đã mua lại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cheerfield Vina với giá chỉ… 1 đô la Mỹ.

Tuy nhiên sau đó, Dona Corp đã gặp rắc rối khi người ký kết hợp đồng mua bán không được sự ủy quyền của các chủ đầu tư nước ngoài. Hay như vụ mua bán một hãng kem khá nổi tiếng đã gặp trục trặc chỉ vì hợp đồng mua bán đã không quy định về quyền sở hữu trí tuệ của các hình ảnh trên… khuôn kem.

Hoặc những vụ kiện liên quan đến mua bán doanh nghiệp mà rất lâu sau khi hai bên ký kết hợp đồng, chợt có người gõ cửa doanh nghiệp và yêu cầu doanh nghiệp trả những khoản nợ đã có từ trước khi mua bán.

Không kém phần lạ lẫm là những vụ M&A đã hoàn tất thỏa thuận mua bán thì lại vướng ở khâu sau cùng – thủ tục đầu tư – vì thiếu các quy định pháp luật rõ ràng và nhất quán.

Có một nguyên nhân chung: sự thiếu thông tin của các bên về doanh nghiệp – đối tượng của hoạt động M&A – đã dẫn đến sự thất bại. Khi xúc tiến một hoạt động M&A, ít nhất có ba câu hỏi mà các bên cần quan tâm, đó là: Mua bán cái gì? Giá bao nhiêu? Trình tự mua bán và thủ tục như thế nào?

Để trả lời cho các câu hỏi đó, các bên, đặc biệt là bên mua, cần đầy đủ thông tin. Đó là cơ sở cho một dịch vụ đặc thù chuyên hỗ trợ các vụ M&A: dịch vụ điều tra chi tiết. Dịch vụ này có nhiệm vụ nhận diện các rủi ro có thể có trong vụ M&A và từ đó tìm ra các giải pháp hạn chế rủi ro này.

Các dịch vụ điều tra chi tiết

Điều tra chi tiết (Due Diligence – DD), là quá trình nghiên cứu, xem xét toàn bộ hoạt động và nội tình của doanh nghiệp mục tiêu, đưa ra một bức tranh đầy đủ nhất, chi tiết nhất về doanh nghiệp đó. Quá trình DD được thực hiện bởi các chuyên gia với những kinh nghiệm chuyên sâu trong từng lĩnh vực.

Quá trình này sẽ cung cấp những số liệu chính xác nhất về hoạt động, hiệu quả của doanh nghiệp, để bên mua xác định giá trị của doanh nghiệp, nhận diện những rủi ro hiển hiện hoặc tiềm ẩn.

Về khía cạnh thương mại, chúng ta có điều tra chi tiết về thương mại (Commercial Due Diligence – CDD). CDD khảo sát thị trường, vị thế cạnh tranh và triển vọng của doanh nghiệp trên thị trường. CDD cũng chỉ ra những tác động ngoại vi đến hoạt động của doanh nghiệp. Khi tiến hành CDD, các chuyên gia sẽ xem xét các hợp đồng đã ký, gặp gỡ các nhà cung cấp, tiếp xúc với các khách hàng hiện tại và tiềm năng, thậm chí là cả đối thủ cạnh tranh – người nắm giữ những thông tin quan trọng về doanh nghiệp.

Nếu CDD chú ý đến các tác động bên ngoài thì điều tra chi tiết về tài chính (Financial Due Diligence – FDD), quan tâm đến tài chính nội bộ của doanh nghiệp mục tiêu, như vốn chủ sở hữu, vốn vay, nợ phải thu, nợ phải trả, các dòng tiền… FDD không phải là một cuộc kiểm toán, FDD hướng tới tương lai chứ không chỉ xem xét các vấn đề tài chính trong quá khứ. FDD sẽ xác định chỉ mục tài chính hiện tại và trong tương lai của doanh nghiệp. Đây là tiêu chí quan trọng giúp bên mua xác định giá bán của doanh nghiệp mục tiêu.

Nắm giữ một vai trò không thể thiếu là điều tra chi tiết về pháp lý (Legal Due Diligence – LDD). LDD là dạng điều tra thường gặp nhất và cũng là một dịch vụ quen thuộc trong một vụ M&A. LDD đưa ra những cảnh báo về tính khả thi trong lĩnh vực pháp lý của giao dịch M&A.

LDD xem xét các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp mục tiêu để phát hiện những rủi ro hiện tại hoặc tiềm ẩn và cung cấp cho bên mua những hiểu biết quan trọng về các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp. Nó chỉ ra cho người mua biết doanh nghiệp mà họ quan tâm có tuân thủ đầy đủ pháp luật hay không và đưa ra những cảnh báo cần thiết về pháp lý để các bên cân nhắc trong giao dịch này.

Có một số ý kiến cho rằng LDD nêu lên quá nhiều rủi ro và đe dọa, vì thế làm cho giao dịch chậm chạp và khó khăn. Tuy nhiên, trên thực tế mục tiêu của LDD là làm sao cho giao dịch dễ dàng đi đến thành công nhất bởi nó hạn chế các tranh chấp sau này.

Kinh tế phát triển kéo theo các hệ lụy về môi trường. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi điều tra chi tiết về môi trường (Environmental Due Diligence – EDD) đang phát triển rất nhanh. EDD xem xét việc tuân thủ các quy định về môi trường của doanh nghiệp mục tiêu trong quá khứ cũng như những ảnh hưởng trong tương lai. EDD sẽ trả lời cho băn khoăn của bên mua rằng doanh nghiệp đó không phải bị bán đi vì những tranh chấp về môi trường cũng như xác định rằng sẽ không có một quyết định đóng cửa doanh nghiệp vì họ đã gây ô nhiễm môi trường.

Ngoài ra, còn có điều tra chi tiết về công nghệ (Technology Due Diligence – TDD). TDD tập trung xác định công nghệ hiện tại, những cải thiện có thể có, hay nguy cơ lạc hậu về công nghệ của doanh nghiệp mục tiêu. TDD tránh cho bên mua việc mua một doanh nghiệp mà chỉ vài tháng sau công nghệ của nó bị lạc hậu vì sự xuất hiện của một công nghệ tương tự hoặc tiên tiến hơn.

Những rào cản phải vượt

DD có tầm quan trọng đặc biệt trong một hoạt động M&A. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, không nhiều doanh nghiệp trong nước sử dụng hiệu quả dịch vụ này. Vì thế mới nảy sinh những tranh chấp không đáng có trong các vụ M&A mà đáng lẽ có thể tránh được thông qua DD.

Để thực hiện DD, bên mua cần rất nhiều thông tin và dữ liệu về doanh nghiệp mục tiêu. Thông tin có thể do chính doanh nghiệp đó cung cấp cho bên mua hoặc do bên mua phải tự tìm kiếm. Tuy nhiên, một vấn đề khó khăn là tính xác thực của thông tin. Các thông tin phục vụ DD, đặc biệt là các thông tin tài chính, do chính doanh nghiệp cung cấp đôi khi đã được chỉnh sửa vì nhiều mục đích, làm mất đi tính chính xác của chúng.

Trong khi đó, việc tiếp cận thông tin từ các cơ quan nhà nước là hết sức chậm chạp và khó khăn. Mặc dù, điều 27, Luật Doanh nghiệp hiện hành cho phép các tổ chức, cá nhân được quyền yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp thông tin về doanh nghiệp như nội dung đăng ký kinh doanh; nội dung thay đổi đăng ký kinh doanh, tuy nhiên ít cơ quan đăng ký kinh doanh nào thực hiện được điều này. Một khó khăn nữa là DD cần sự tham gia của nhiều chuyên gia trong nhiều lĩnh vực như kiểm toán, luật sư, chuyên gia về môi trường, chuyên gia về nhãn hiệu…

Doanh nghiệp, trong giao dịch M&A, đóng vai trò là một loại hàng hóa đặc biệt – một thực thể pháp lý hàng ngày hàng giờ có khả năng tự tạo ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho chính nó. Doanh nghiệp là một loại hàng hóa phi vật chất, không thể cầm nắm nhưng nó vận hành như một cơ thể sống thông qua những cá nhân hoạt động trong doanh nghiệp.

Vì vậy, để hạn chế rủi ro cho các bên tham gia M&A, nhu cầu tìm kiếm thông tin phải trở thành một nhu cầu tự thân của mỗi bên khi tiến hành M&A. Không ai có thể bảo vệ quyền lợi của các bên trong một vụ M&A bằng sự cẩn trọng của chính họ. Và DD sẽ luôn là công cụ hữu hiệu để hỗ trợ các bên trong giao dịch M&A.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

5. Phân tích các giao dịch sáp nhập, mua lại doanh nghiệp ?

Nhận thức về M&A của các doanh nghiệp chưa cao cộng thêm với những rào cản pháp lý là nguyên nhân khiến tỷ lệ thành công của các giao dịch M&A ở Việt Nam là rất thấp, chỉ đạt tỷ lệ khoảng 35%. Hy vọng rằng trong tương lai gần, nhận thức của doanh nghiệp về M&A và những thay đổi trong môi trường pháp lý sẽ góp phần làm tỷ lệ thành công của các giao dịch M&A tăng cao hơn, làm cho M&A thực sự trở thành công cụ chiến lược để thu hút đầu tư vào doanh nghiệp.

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

1. Các hình thức của giao dịch M&A

Sau khi đã hiểu được sự cần thiết của giao dịch M&A, câu hỏi đặt ra với các doanh nghiệp là thực hiện M&A như thế nào.

Thông thường một giao dịch M&A phải trải qua các bước:

- Tìm kiếm đối tác

- Thẩm định, xác định giá trị giao dịch

- Đàm phán, ký kết, thực hiện Hợp đồng M&A

Trong giao dịch M&A, vấn đề cần quan tâm trước tiên đó là hình thức pháp lý mà pháp luật cho phép để thực hiện giao dịch. Hình thức pháp lý ở đây được hiểu là các trình tự, điều kiện do pháp luật quy định mà các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ. Hình thức pháp lý của giao dịch M&A sẽ quyết định các công việc cụ thể cần thực hiện cũng như quyết định chúng sẽ được thực hiện như thế nào và tại thời điểm nào.

Pháp luật Việt Nam quy định về các hình thức thực hiện giao dịch M&A như sau:

- Góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp thông qua việc góp vốn để tăng vốn điều lệ công ty TNHH hoặc mua cổ phần phát hành để tăng vốn điều lệ của công ty cổ phần.

- Mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần đã phát hành của thành viên hoặc cổ đông của công ty. Không giống như hình thức góp vốn trực tiếp vào doanh nghiệp, đây là hình thức đầu tư không làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp nhưng có thể làm thay đổi cơ cấu sở hữu vốn góp/cổ phần của doanh nghiệp.

- Mua, bán doanh nghiệp doanh nghiệp tư nhân (theo quy định của Luật Doanh nghiệp) và một số doanh nghiệp nhà nước, bộ phận doanh nghiệp nhà nước (theo quy định của pháp luật về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê công ty nhà nước).

- Sáp nhập doanh nghiệp là hình thức kết hợp một hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập) vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) trên cơ sở chuyển toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập vào công ty nhận sáp nhập. Công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại, công ty nhận sáp nhập vẫn tồn tại và kế thừa toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty bị sáp nhập.

- Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều công ty cùng loại (công ty bị hợp nhất) kết hợp thành một công ty mới (công ty hợp nhất). Các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại và hình thành mới một công ty trên cơ sở kế thừa toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của các công ty bị hợp nhất.

Trong số các hình thức M&A nêu trên, từ góc độ của bên bán, hình thức cho góp vốn vào công ty và bán phần vốn góp, cổ phần của công ty sẽ là những hoạt động chính và thường xuyên, phổ biến nhất. Mỗi một hình thức M&A đều có những quy định riêng của pháp luật điều chỉnh, trước khi thực hiện bất cứ một hoạt động M&A nào, bên bán cần tìm hiểu kỹ các quy định của pháp luật để xác định mục đích chiến lược của mình khi bán có đạt được hay không và cần phải thực hiện việc bán như thế nào để pháp luật bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của mình.

Trong trường hợp bán toàn bộ doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, bộ phận của doanh nghiệp nhà nước thông thường doanh nghiệp mục tiêu sẽ bị “nuốt chửng” và được sáp nhập vào công ty đi mua lại. Nếu chỉ bán một phần công ty của mình cho một đối tác chiến lược, bên bán vừa có thêm nguồn vốn kinh doanh, vừa tiếp thu thêm được những công nghệ và kỹ năng chuyên môn của đối tác. Bên bán hoàn toàn có thể bảo vệ được lợi ích của mình trong doanh nghiệp và mối lo “bị nuốt chửng” sẽ không phải là sự bận tâm chính.

Bán cổ phiếu phát hành thêm cho đối tác chiến lược là một cách huy động thêm vốn, nhưng nó có những ảnh hưởng nhất định mà bên bán cần nắm rõ trước khi thực hiện ví dụ như sau khi phát hành thêm cổ phiếu, bên bán sẽ phải chia sẻ quyền kiểm soát doanh nghiệp, cơ cấu tài chính của doanh nghiệp sẽ thay đổi.

Bên bán cần đảm bảo rằng việc bán phần vốn góp, cổ phần được các bên liên quan chấp thuận và hợp pháp. Các bên liên quan bao gồm các thành viên khác trong công ty TNHH, các cổ đông sáng lập hoặc cổ đông lớn trong công ty cổ phần tùy theo quy định trong điều lệ công ty và/hoặc thỏa thuận góp vốn. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và một số văn bản pháp luật liên quan khác cũng có những điều khoản quy định về thời hạn nắm giữ tối thiểu đối với các cổ đông sáng lập, các giới hạn sở hữu đối với cổ đông nước ngoài…

Khi đã lựa chọn được chiến lược và hình thức giao dịch M&A, bên bán có thể thành lập một nhóm tư vấn cho việc bán doanh nghiệp. Nhóm tư vấn này thường bao gồm các cán bộ chủ chốt trong công ty có chuyên môn thuộc các lĩnh vực liên quan như tài chính – đầu tư, kế toán- kiểm toán, pháp lý… và các nhà tư vấn mua bán và sáp nhập (M&A) chuyên nghiệp bên ngoài. Có thể khẳng định là các doanh nghiệp Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm giao dịch M&A. Việc sử dụng các dịch vụ tư vấn M&A chuyên nghiệp là việc nên làm, nên làm ngay từ ban đầu và trong toàn bộ quá trình để đảm bảo thực hiện các mục tiêu chiên lược và đem lại hiệu quả cao.

2. Những vấn đề pháp lý trong giai đoạn tìm kiếm đối tác

Hoàn tất một giao dịch M&A có thể là một lộ trình dài và trong lộ trình đó, các bên có thể có một số thoả thuận sơ bộ (thoả thuận trước hợp đồng) liên quan đến phương thức hành xử của các bên trong thời gian thẩm định, đàm phán, ký kết hợp đồng M&A. Các thoả thuận trước hợp đồng phổ biến nhất là thoả thuận bảo mật và thoả thuận nguyên tắc.

Trong giai đoạn tìm kiếm đối tác, bên bán có thể phải tiết lộ ngày càng nhiều thông tin mật mà không có sự đảm bảo chắc chắn liệu giao dịch M&A có được thực hiện hay không. Bởi vậy, ngay khi bắt đầu tiếp xúc với bên mua, bên bán có thể đề xuất ký Thoả thuận bảo mật (Thoả thuận không tiết lộ). Thoả thuận bảo mật liên quan đến cả bên bán, bên mua và bên tư vấn (nếu có); quy định ai chịu trách nhiệm nhận và cung cấp thông tin; đưa ra danh sách những thông tin không cần bảo mật như thông tin mà công luận đã biết không phải do hành động vi phạm thoả thuận của bên nhận tin, thông tin vốn thuộc quyền nắm giữ của bên nhận tin, thông tin do bên nhận tin tự mở rộng, thông tin nhận từ một nguồn khác mà không có giới hạn về việc sử dụng hay tiết lộ. Thời hạn của Thoả thuận bảo mật thông thường từ 3 đến 5 năm. Trong trường hợp một bên vi phạm Thoả thuận bảo mật, bên kia có quyền khởi kiện để đòi được bồi thường thiệt hại do vi phạm gây ra. Tuy nhiên trên thực tế rất khó chứng minh việc vi phạm nghĩa vụ bảo mật và thiệt hại do vi phạm gây ra nên có rất ít các vụ vi phạm Thoả thuận bảo mật được đưa ra Toà.

Kết thúc giai đoạn tìm kiếm đối tác, bên mua và bên bán có thể ký Thoả thuận nguyên tắc (hay còn có tên là Biên bản ghi nhớ, Thư cam kết, Các phần chính của thoả thuận…). Thoả thuận nguyên tắc chính thức hoá các dự định và dự kiến của các bên, ghi nhận những thoả thuận đã đạt được, quy định về các bước tiếp theo, các vấn đề chi tiết để hoàn tất giao dịch. Thoả thuận nguyên tắc có thể bao gồm những điều khoản bắt buộc để hoàn tất giao dịch, vạch lộ trình giúp việc đi đến hợp đồng M&A dễ dàng. Trong Thoả thuận nguyên tắc có thể chính xác đối tượng của giao dịch để tránh hiểu lầm, quy định nghĩa vụ của các bên trong quá trình đàm phán, ghi nhận về các quyền sở hữu trí tuệ (nếu các quyền sở hữu trí tuệ là lý do chính của giao dịch M&A), cam kết của bên bán không tiến hành đàm phán với bên thứ ba trong một thời gian nhất định để bên mua hoàn tất giao dịch M&A, quy định ràng buộc về bảo mật, luật áp dụng trong giao dịch …

Khi ký kết Thoả thuận nguyên tắc, bên bán thường muốn càng có nhiều ràng buộc càng tốt (dù bên mua thường không muốn như vậy). Việc Thoả thuận nguyên tắc có tính ràng buộc và có hiệu lực bắt buộc thi hành hay không tuỳ thuộc vào luật áp dụng trong giao dịch. Nếu luật áp dụng là luật của các nước Common Law (các nước chịu ảnh hưởng của pháp luật Anh – Mỹ), Thoả thuận nguyên tắc không có tính ràng buộc trừ trường hợp được quy định cụ thể trong Thoả thuận. Nếu luật áp dụng là luật của các nước Civil Law (các nước châu Âu lục địa), các bên có thể bị bắt buộc phải thi hành Thoả thuận nguyên tắc dù không muốn như vậy. Cần lưu ý là ở những điều khoản không ràng buộc người ta dùng từ “có thể”, ở những điều khoản thiết lập ràng buộc người ta dùng từ “sẽ”. Trong Thoả thuận nguyên tắc có thể tuyên bố rõ ràng Thoả thuận nhìn chung không có tính ràng buộc nhưng có một số điều khoản (có đánh số rõ ràng) có nội dung ràng buộc các bên.

3. Những vấn đề pháp lý trong giai đoạn thẩm định, xác định giá trị giao dịch

Trong giai đoạn thẩm định, xác định giá trị giao dịch, bên mua (được xác định hoặc đã ký Thỏa thuận nguyên tắc) thường yêu cầu bên bán cho phép thực hiện một số thẩm định chi tiết (due diligence/DD) về các khía cạnh thương mại – thị trường, pháp luật, tài chính, thuế, nhân sự, tổ chức hoạt động (operation), công nghệ. Tại Việt Nam, chủ yếu là DD về luật và tài chính được thực hiện. Việc lựa chọn các DD sẽ được thực hiện được xác lập trên cơ sở các mục tiêu mà bên mua đặt ra.

Thẩm định pháp lý (Legal DD) giúp cho bên mua hiểu rõ tư cách pháp lý, các quyền và nghĩa vụ pháp lý, chế độ pháp lý đối với các loại tài sản, hợp đồng lao động, hồ sơ đất đai, xây dựng, đầu tư …là cơ sở xác định tình trạng và các rủi ro pháp lý khi đưa ra quyết định mua doanh nghiệp. Việc thẩm định pháp lý thường do các luật sư tư vấn M&A thực hiện thay mặt cho bên mua.

Khi phối hợp thực hiện hoặc quản lý việc cung cấp thông tin phục vụ cho thẩm định, bên bán thường gặp khó khăn do chưa có kinh nghiệm. Bởi vậy, sự trợ giúp chuyên nghiệp từ các chuyên gia M&A sẽ rất có giá trị, đảm bảo sự thành công và hiệu quả của giao dịch.

Số liệu về định giá, xác định giá trị giao dịch sát thc sẽ giúp tối thiểu hóa các khác biệt về quan điểm định giá giữa bên bán và bên mua. Điều này sẽ giúp giảm thiểu thời lượng các cuộc thương thảo sau này với bên mua và mở ra cơ hội tốt hơn để giao dịch thành công.

4. Những vấn đề pháp lý trong giai đoạn đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng M&A

Sau khi đã có kết quả thẩm định và xác định giá trị giao dịch, quá trình đàm phán sẽ dẫn đến một kết quả phản ánh tập trung nội dung của giao dịch M&A, đó chính là hợp đồng M&A được giao kết giữa các bên. Quá trình đàm phán rất quan trọng đối với giao dịch M&A vì nếu hợp đồng M&A không phản ánh đủ và chính xác tất cả các kết quả của những công việc trước đó, các mong muốn và kỳ vọng của các bên hay hạn chế tối đa các rủi ro thì những công việc đã thực hiện sẽ không có giá trị hoặc giảm giá trị đi rất nhiều cũng như mục đích M&A có thể bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực.

Giao kết hợp đồng là công đoạn cuối cùng của việc thỏa thuận giao dịch M&A. Đó là khi các bên đã hiểu rõ về nhau cũng như hiểu rõ về mục đích và yêu cầu của mỗi bên, hiểu rõ các lợi ích và rủi ro khi thực hiện M&A. Hợp đồng M&A là sự thể hiện và ghi nhận những cam kết của các bên đối với giao dịch. Nó không chỉ là liên quan đến khía cạnh pháp lý mà là sự phối hợp một cách hài hòa các yếu tố có liên quan đến giao dịch M&A khác như tài chính, kinh doanh… Chỉ khi kết hợp một cách hoàn chỉnh các yếu tố có liên quan thì Hợp đồng M&A mới thật sự là công cụ để bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia giao dịch. Không có mẫu hợp đồng chung cho tất cả các giao dịch M&A, vì vậy hợp đồng M&A phải dược xây dựng riêng cho từng trường hợp cụ thể; quy định đầy đủ các điều khoản cơ bản liên quan đến giao dịch M&A, đưa ra các yêu cầu, lợi ích, sự ràng buộc riêng biệt của doanh nghiệp và thậm chí quy định cả các vấn đề sau giao dịch M&A…

Hợp đồng M&A bao gồm những nội dung chủ yếu sau: tên, địa chỉ, trụ sở chính của doanh nghiệp bị sáp nhập, mua lại; thủ tục và điều kiện sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; phương án sử dụng lao động; thủ tục, điều kiện và thời hạn chuyển giao tài sản, chuyển vốn, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập, mua lại; thời hạn thực hiện việc sáp nhập, mua lại; trách nhiệm của các bên. Thủ tục và điều kiện sáp nhập, mua lại doanh nghiệp bao gồm các điều khoản tài chính chủ yếu trong giao dịch M&A, cơ cấu của giao dịch M&A.Trách nhiệm của các bên bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên, những hành động mà các bên phải thực hiện trước khi hoàn tất giao dịch M&A, các biện pháp để chống lại việc phá vỡ các ràng buộc trách nhiệm.

Để giảm thiểu khả năng xảy ra tranh chấp, hợp đồng M&A nên được xây dựng như hồ sơ toàn diện về toàn bộ thoả thuận giữa các bên về mọi khía cạnh của giao dịch. Trong hợp đồng, cần phải xác định rõ ai sẽ mua cái gì, khi nào mua, với giá bao nhiêu và dựa trên những điều kiện nào.

Trong hợp đồng M&A có thể xác định những thay đổi lập tức cần phải làm đối với công ty mục tiêu bao gồm các vấn đề như việc từ chức và bổ nhiệm các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; việc trả các khoản vay ngân hàng và thay đổi cơ cấu công ty mục tiêu.

Việc thanh toán giá mua có thể bằng một khoản phải trả cố định khi hoàn tất thoả thuận, cũng có thể là một khoản phải trả không cố định bao gồm khoản trả đầu tiên và các khoản trả tiếp theo tuỳ thuộc vào hiệu suất hoạt động của công ty mục tiêu.

Trong hợp đồng M&A có những tuyên bố và cam kết của bên bán về tình trạng và lịch sử của công ty mục tiêu bao gồm tất cả các khoản nợ cùng các khoản bồi hoàn phù hợp. Bên mua cũng đưa ra các tuyên bố liên quan tới tình trạng tài chính và luật pháp của công ty mình. Các tuyên bố và đảm bảo có chức năng cơ bản là phân bổ rủi ro giữa các bên, buộc bên bán có trách nhiệm pháp lý với các khoản nợ trước khi hoàn tất hợp đồng M&A và buộc bên mua có trách nhiệm pháp lý với những khoản nợ phát sinh sau khi hoàn tất.

Những tuyên bố và bảo đảm chỉ tốt khi bên đưa ra chúng đáng tin cậy nên cũng cần có những biện pháp để hạn chế rủi ro khác như điều chỉnh giá, giữ lại một phần giá mua, các đảm bảo của bên thứ ba, bảo hiểm…Trong hợp đồng M&A, các bên đưa ra cam kết rằng những thông tin và dữ liệu về thực trạng một vấn đề là đúng.

Bên bán cần chú ý để tránh bị ràng buộc pháp lý với các tuyên bố và bảo đảm được đưa ra trong hợp đồng và có thể đề nghị bổ sung điều khoản loại trừ các nghĩa vụ pháp lý đã tuyên bố, trừ các tuyên bố đã được đưa vào hợp đồng M&A; phân biệt tuyên bố sai vô ý và vô hại với tuyên bố sai cố ý.

Mục đảm bảo bồi thường là cơ chế để tránh những rủi ro tài chính trong giao dịch M&A, nó định rõ các quyền của bên mua và bên bán theo đó nêu một bên vi phạm các tuyên bố, cam kết, thoả thuận hạn chế và những ràng buộc khác được ghi trong hợp đồng M&A, bên kia sẽ nhận được bồi thường. Các bên có thể đưa ra một số hạn chế về mức tối thiểu và tối đa của các khoản bồi thường.

Thực hiện hợp đồng M&A là tiến trình cho các động thái như chuyển giao tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp; hoàn tất giao dịch; giải quyết các tranh chấp SPA; thực hiện bảo đảm hoặc bồi thường (nếu có). Ngoài ra, các động thái khác liên quan tới thực hiện hợp đồng M&A, bên bán có thể quan tâm giám sát kết quả/thành công của giao dịch và các vấn đề khác liên quan tới tích hợp giao dịch, ví dụ như: đội ngũ nhân sự mới, chính sách lợi ích nhân viên và cổ đông, văn hóa doanh nghiệp, hệ thống thông tin…

5. Kết luận

Nhận thức về M&A của các doanh nghiệp chưa cao cộng thêm với những rào cản pháp lý là nguyên nhân khiến tỷ lệ thành công của các giao dịch M&A ở Việt Nam là rất thấp, chỉ đạt tỷ lệ khoảng 35%. Hy vọng rằng trong tương lai gần, nhận thức của doanh nghiệp về M&A và những thay đổi trong môi trường pháp lý sẽ góp phần làm tỷ lệ thành công của các giao dịch M&A tăng cao hơn, làm cho M&A thực sự trở thành công cụ chiến lược để thu hút đầu tư vào doanh nghiệp.

(MKLAW FIRM: Biên tập)

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn mua bán doanh nghiệp, tư vấn giải thể doanh nghiệp