1. Quyền con người từ góc độ đạo đức - tôn giáo
Những ý niệm đầu tiên về quyền con người có lẽ được nảy sinh từ quan niệm về các chuẩn mực đạo đức - cách thức đối xử giữa người với người trong xã hội - mà vốn có và hiện còn trong văn hóa truyền th ống của hầu hết dân tộc trên trái đất. Cụ thể, ở khắp nơi trên thế giới, người ta đều lưu truyền những quy tắc ứng xử, coi đó là những quy luật vàng, kiểu như: nếu muốn người khác đối xử với mình như thế nào thì hãy đối xử với người khác như th ; tác giả, các báo hoặc gieo gì gặt n ấy...Rõ ràng, ẩn chứa trong nội hàm của các quy luật vàng này là yêu cầu tôn trọng các quyền, tự do chính đáng và tự nhiên của người khác. Những quy tắc đạo đức hàm chứa những ý tưởng về quyền con người như vậy sau đó được đúc kết, khái quát, bổ sung và phát triển trong giáo lý của các tôn giáo. Sức mạnh đức tin của các tôn giáo đó biến các ý tưởng về quyền con người trở thành những quy phạm đạo đức - tôn giáo được tuân thủ rộng rãi ở nhiều xã hội, trong đó đề cao và cổ vũ tình yêu thương đồng loại, sự công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm - những yếu tố nền tảng của quyền con người. Nhìn tổng thể, trong suốt quá trình phát triển của quyền con người, kể cả khi các quyền con người đã được pháp điển hóa trong pháp luật quốc gia và quốc tế, nó vẫn bị các phạm trù đạo đức và tôn giáo chi phối. Sự chi phối đó không bộc lộ mà lặng lẽ, ẩn tàng nhưng rất sâu sắc. Nói cách khác, trong su ốt ti ến trình phát triển của nó, quyền con người luôn phản ánh và mang nặng d ấu ấn của các giá trị và quy tắc đạo đức, tôn giáo.
2. Quyền con người từ góc độ lịch sử - xã hội
Nhìn từ góc độ lịch sử và xã hội, quyền con người bắt nguồn từ các quan hệ xã hội, là kết quả và phụ thuộc vào sự vận động của các quan hệ xã hội trong lịch sử. Thực tế cho thấy, trong mỗi giai đoạn lịch sử, xã hội loài người tồn tại những quan niệm khác nhau về các quyền, tự do và nghĩa vụ, cũng như những quy phạm và cơ chế khác nhau để thực hiện, giám sát và bảo vệ các quyền, tự do và nghĩa vụ đó. Xét tổng thể, lịch sử loài người thực chất là một quá trình phấn đấu không ngừng để tồn tại và nâng cao các tiêu chuẩn sống, trong đó bao gồm việc phấn đấu để xác lập và bảo vệ những giá trị tự do, bình đẳng, công bằng và nhân phẩm cho tất cả các cá nhân thành viên của cộng đồng nhân loại. Theo dòng lịch sử, ảnh hưởng và tác động của quyền con người ngày càng mở rộng, từ ý niệm, tư tưởng đến các quy tắc, quy phạm và cơ chế; từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Trong suốt quá trình phát triển này, quyền con người luôn mang những dấu ấn về chính trị, kinh tế, văn hoá của từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử của xã hội loài người.
3. Quyền con người từ góc độ triết học
Trên phương diện triết học, sự hình thành, phát triển của quyền con người phản ánh quy luật phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao. Cụ thể, nó phản ánh quá trình phát triển mang tính quy luật trong nhận thức của loài người từ những khái niệm sơ khai nhất về công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm cho đến những tư tưởng, học thuyết và những quy phạm pháp lý về quyền con người. Trong triết học, quyền con người từ lâu đã trở thành một đối tượng nghiên cứu với những tư tưởng, học thuyết được phát triển bởi nhiều nhà triết học nổi tiếng. Những tư tưởng triết học về quyền con người, đặc biệt là về các quyền tự nhiên và các quyền pháp lý là nền tảng lý luận cho việc pháp điển hóa các quyền con người vào pháp luật quốc gia và quốc tế, cũng như trong việc bảo đảm thực hiện các quyền này trên thực tế.
4. Quyền con người từ góc độ chính trị
Ngay từ khi còn ở dưới dạng quan điểm, tư tưởng, quyền con người đã là một vấn đề ảnh hưởng, chi phối quan hệ chính trị, cả ở phạm vi quốc gia và quốc tế. Cuộc đấu tranh quyết liệt giữa giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII đã chứng minh sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền con người và chính trị. Mặc dù ở thời điểm bắt đầu của cuộc đấu tranh này, quyền con người chủ yếu mới thể hiện dưới dạng những đòi hỏi về quyền công dân; tuy nhiên, ngay từ thời điểm đó, quyền con người đã là một thứ vũ khí tư tưởng rất lợi hại góp phần quyết định giúp giai cấp tư sản lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến. Sau đó, quyền con người đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Ngay từ khi quyền con người bắt đầu được pháp điển hóa trong luật quốc tế (kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai), vấn đề quyền con người đã bị "chính trị hoá" một cách sâu sắc và có hệ thống.1 Từ khi cuộc Chiến tranh Lạnh kết thúc cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù mức độ "chính trị hoá" quyền con người đã ít nhiều giảm đi, tuy nhiên, đây vẫn là hiện thực không thể tránh khỏi và sẽ cùng tồn tại lâu dài trong các hoạt động quốc tế về quyền con người. Xét ở phạm vi quốc tế, quyền con người hiện đã trở thành một trong những vấn đề chính chi phối (trực tiếp hoặc gián tiếp) mạnh mẽ và toàn diện các quan hệ chính trị quốc tế ở mọi cấp độ, từ toàn cầu, khu vực đến song phương. Xét ở phạm vi quốc gia, từ lâu, các đảng phái chính trị trên thế giới đã nhanh chóng nhận thấy và nắm lấy quyền con người như một thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh giành và giữ quyền lực nhà nước. Quyền con người trở thành các tiêu chí được dùng để đánh giá tính tiến bộ, phù hợp trong cương lĩnh tranh cử; trở thành cơ sở để các đảng phái phê phán, chỉ trích lẫn nhau; thậm chí trở thành một yếu tố quyết định sự tồn vong của một chính thể, một người đứng đầu nhà nước hoặc một chế độ xã hội. Tại nhiều nước trên thế giới hiện nay, quyền con người đã trở thành một trong các chủ đề trung tâm không chỉ trong cuộc đấu tranh quyền lực giữa các chính đảng, mà còn trong các chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia.
5.Quyền con người từ góc độ pháp lý
Là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật. Điều này trước h ết là b ởi cho dù quyền con người có là bẩm sinh, v ốn có (nguồn g ốc t ự nhiên) hay phải do các nhà nước quy định (nguồn gốc pháp lý), thì việc th ực hiện các quyền vẫn cần có pháp luật. Hầu h ết nh ững nhu cầu v ốn có, t ự nhiên c ủa con người (các quyền t ự nhiên) không thể được bảo đảm đầy đủ n ếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa v ụ tôn tr ọng và th ực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng nh ững quy tắc đạo đức mà tr ở thành nh ững quy tắc c ư x ử chung, có hiệu l ực bắt bu ộc và th ống nh ất v ới cho t ất cả m ọi ch ủ thể trong xã h ội. Chính vì vậy, quyền con người gắn liền v ới các quan hệ pháp luật và là m ột phạm trù pháp lý. Th ực t ế cho th ấy, với t ư cách là ch ủ thể c ủa pháp luật, con người - cùng với quyền, t ự do và nghĩa vụ, nh ững thu ộc tính xã h ội gắn liền với nó - luôn là đối tượng phản ánh c ủa các hệ th ống pháp luật. Pháp luật xác lập và bảo vệ s ự bình đẳng gi ữa các cá nhân con người trong xã h ội và s ự độc lập tương đối c ủa các cá nhân với tập thể, c ộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và t ự do t ự nhiên, vốn có c ủa cá nhân. Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt, không thể thay th ế trong việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Vai trò c ủa pháp luật với quyền con người thể hiện ở nh ững khía cạnh c ụ thể nh ư sau: - Pháp lu ật là phương tiện chính th ức hoá, pháp lý hoá giá trị xã h ội c ủa các quyền tự nhiên: Mặc dù được th ừa nhận song thông thường các quyền t ự nhiên không mặc định được áp d ụng tr ực ti ếp trong xã h ội. Về nguyên tắc, các nhà nước trên th ế gi ới chỉ bảo đảm th ực hiện nh ững quyền pháp lý - t ức nh ững nhu cầu, l ợi ích t ự nhiên, v ốn có của con người đã được pháp luật th ừa nhận và bảo vệ. Nh ư vậy, chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền tự nhiên mới chuyển thành những quyền con người có đầy đủ giá trị hiện thực. Pháp luật chính là phương tiện để th ực hiện quá trình chuyển hoá đó. Nó có sứ mệnh cao cả là biến những nghĩa vụ đạo đức về tôn tr ọng và th ực hiện các quyền t ự nhiên thành các nghĩa vụ pháp lý (hay các quy tắc cư xử chung do Nhà nước cưỡng chế thực hiện), từ đó xã hội hoá giá trị của các quyền tự nhiên c ủa con người. - Pháp lu ật là phương tiện bảo đảm giá trị th ực tế c ủa các quyền con người: Như đã đề cập, chỉ khi được quy định trong pháp luật, việc tuân thủ và thực hiện các quyền con người mới mang tính bắt bu ộc với mọi chủ thể trong xã hội. Ở đây, pháp luật đóng vai trò là công cụ giúp Nhà nước bảo đảm s ự tuân th ủ, th ực thi các quyền con người c ủa các ch ủ thể khác nhau trong xã h ội, đồng th ời c ũng là công c ụ c ủa các cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người c ủa chính h ọ thông qua việc vận d ụng các quy phạm và c ơ ch ế pháp lý qu ốc gia và qu ốc t ế có liên quan. Th ực t ế cho th ấy, t ư tưởng đề cao pháp luật, coi pháp luật là phương tiện h ữu hiệu để bảo đảm các quyền con người đã được khẳng định t ừ r ất sớm. T ừ nhiều th ế kỷ trước Công nguyên, m ột vị vua vĩ đại c ủa c ủa x ứ Babylon là Hammurabi (1810 - 1750 TCN) đã tuyên b ố rằng, m ục đích của ông trong việc ban hành đạo luật c ổ n ổi ti ếng (mang tên ông) là để “...ng ăn ng ừa nh ững kẻ m ạnh áp b ức người y ếu”118. Vào th ế kỷ th ứ VI trước Công nguyên, m ột nhi ếp chính quan La Mã là Arokhont Salon đã tuyên b ố ý định gi ải phóng cho t ất c ả m ọi người b ằng quyền l ực c ủa pháp lu ật, b ằng s ự k ết h ợp s ức m ạnh v ới pháp lu ật. Trong nh ững giai đ oạn sau này, t ư tưởng đề cao pháp luật v ới việc bảo đảm quyền con người c ũng được phát triển b ởi nhiều nhà t ư tưởng n ổi ti ếng c ủa nhân loại, và được minh ch ứng bằng s ự ra đời c ủa ngày càng nhiều các văn bản pháp luật qu ốc gia và qu ốc t ế về các quyền và t ự do c ủa con người, t ừ Đại Hi ến chương Magna Carta (the Magna Carta, 1251), B ộ luật về các quyền (the Bill of Rights, 1689) c ủa nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người và c ủa công dân (the Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, 1789) c ủa nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (the Declaration of Independence, 1776) và B ộ luật về các quyền (the Bill of Rights, 1789/1791) c ủa nước M ỹ cho đến Tuyên ngôn toàn th ế gi ới về quyền con người năm 1948 và hệ th ống đồ s ộ hàng trăm văn kiện qu ốc t ế về quyền con người do Liên h ợp qu ốc và các t ổ ch ức qu ốc t ế khác thông qua t ừ đầu th ế kỷ XX đến nay. T ất cả đã cho th ấy vai trò không thể thay th ế c ủa pháp luật trong việc bảo đảm các quyền con người.
Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)