1. Giới thiệu

Ở bệnh viện, có lẽ chúng ta đều đã chứng kiến hoặc đểu đã nghe kể lại về những bác sĩ hay nhân viên y tế trong bệnh viện đối xử với bệnh nhân không phải như một nhân cách cá thể mà chỉ như một đối tượng cần điều trị. Đến hầu hết các bệnh viện, nhất là các bệnh viện lớn, chúng ta đều thấy cảnh bệnh nhân phải xếp hàng chờ đợi, có khi hai, ba tiếng mỗi đến lượt khám. Những người đến bệnh viện đều là những người có vấn đề về sức khỏe, hoặc đang đau ốm hoặc khó chịu trong người. Họ lo lắng về bệnh tật nên cả về tinh thần cũng không thoải mái nếu không nói là bất an. Có nhiều người còn đến bệnh viện trong trạng thái lo lắng về kinh tế, lo không đủ tiền khám bệnh, tiền thuốc thang, tiền phẫu thuật, tiền viện phí... Đồi vối những người điều hành bệnh viện không nghĩ ngợi gì, hoàn toàn bình thản trước việc để cho những con người đang đau đớn về thể xác, lo lắng về tinh thần như vậy phải chờ đợi thì rõ ràng là có vấn đề.

2. Tình trạng quá tải tại các bệnh viện

Thời gian qua, tình trạng quá tải phổ biến tại hầu hết các bệnh viện ở các tuyến, đặc biệt quá tải trầm trọng ở tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Tỉ lệ sử dụng giường thường xuyên trên 100% và dao động từ 120% đến 150%, thậm chí tới 200% ở một số bệnh viện lớn như bệnh viện Bạch Mai, bệnh viên K và bệnh viện Ung bướu TP. Hồ Chí Minh. Tình trạng quá đông bệnh nhân xuất hiện cả ở khu vực phòng khám lẫn khu vực điều trị nội trú: 2-3 bệnh nhân nội trú/1 giường, 1 bác sỹ phòng khám phải khám 60 - 100 bệnh nhân/ngày là phổ biến.

Tình trạng dưới tải xảy ra ở một số bệnh viện chuyên khoa ở tuyến tỉnh thuộc lĩnh vực Phục hồi chức năng, Tâm thần, Phòng chống bệnh xã hội (Lao, Phong) và các bệnh viện đa khoa tuyến huyện thuộc khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa.

Tình trạng quá tải ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ và an toàn của bệnh nhân: tình trạng quá tải giường bệnh, quá đông bệnh nhân sẽ dẫn tới nguy cơ không đảm bảo chất lượng khám chữa bệnh và an toàn của bệnh nhân. Thời gian khám chữa bệnh cho bệnh nhân ít, đặc biệt là bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại khu vực Khoa Khám bệnh làm cho các bệnh viện không có đủ thời gian khám và tư vấn cho bệnh nhân. Việc kê thêm giường bệnh, nhận quá đông bệnh nhân trong khi diện tích mặt bằng không tăng, cơ sở vật chất đầu tư không hợp lý và đúng thiết kế, thiếu nhân lực sẽ dẫn tới các bệnh viện không đảm bảo được các tiêu chuẩn kỹ thuật vận hành theo quy định.

3. Quyền riêng tư tại bệnh viện

Có nhiều nơi, để việc khám diễn ra nhanh chóng đỡ mất thời gian, người ta gọi những người tiếp theo vào phòng khám ngồi đợi sẵn trong phòng, trong khi người khám trước vẫn đang được bác sĩ thăm khám. Vì cùng ở trong một phòng nên nội dung nói chuyện giữa người bệnh khám trước với bác sĩ dù không muốn nghe vẫn lọt vào tai người ngồi đợi. Như vậy là, người ta hoàn toàn không quan tâm tới vấn đề phát sinh từ góc độ nhân quyền, đó là, câu chuyện riêng tư giữa người bệnh với bác sĩ đã bị người thứ ba nghe được. Hầu như chúng ta ai đã từng đến bệnh viện đều có những kinh nghiệm như vậy. Có thể nói, đây là những hiện tượng tượng trưng cho bệnh viện ngày nay: không tiếp xúc với bệnh nhân như một con người cần có thái độ ân cần và chăm sóc.

4. Quyền con người ở bệnh viện có được bảo đảm không?

Trên các phương tiện thông tin có không ít tin bài liên quan đến những vụ việc đáng tiếc xảy ra ở bệnh viện do nhầm lẫn, tắc trách, vô cảm... như quên bông băng, dao kéo trong cơ thể của bệnh nhân sau khi mổ, mổ nhầm bệnh nhân này với bệnh nhân khác, thậm chí vô trách nhiệm gây chết người - những sự nhầm lẫn thật khó tin có thể xảy ra. Chỉ có thể lý giải rằng những nhầm lẫn này xảy ra trong bối cảnh phía bệnh viện thiếu ý thức về quyền con người: không coi bệnh nhân là một con người đang sống có nhân cách cần được tôn trọng mà chỉ coi họ như những con bệnh. Đại học Y là nơi khó thi vào nhất, vì thế có thể nói đó là nơi đào tạo những con người ưu tú nhất của xã hội. Nhưng khi nhìn vào tình trạng để xảy ra những vụ việc tiêu cực không thể tin được trong hành vi chữa trị của những con người đã được đào tạo ra ở một trong những nơi ưu tú nhất này thì phải thấy rằng, đã đến lúc cần phải có những biện pháp sửa đổi cấp bách cho bệnh viện, cần phải dạy cho những người sẽ ra làm thầy thuốc rằng, bên cạnh cái đầu (tri thức) và đôi bàn tay (kỹ năng) còn phải có cả trái tim (lòng nhân hậu) biết tôn trọng nhân phẩm của người bệnh.

5. “Quyền được chăm sóc y tế” là gì?

“Quyền được chăm sóc sức khỏe không có nghĩa là quyền được khỏe mạnh, hay là các chính phủ nghèo phải thiết lập các dịch vụ y tế đắt tiền mà họ không có nguồn lực hỗ trợ. Nhưng nó yêu cầu chính phủ, và các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các chính sách và chương trình hành động nhằm tạo ra các dịch vụ y tế sẵn có và mọi người có thể tiếp cận được trong thời gian ngắn nhất có thể. Để đảm bảo rằng có thể thực hiện được điều này là một thách thức cho cả cộng đồng quyền con người và các chuyên viên y tế” (Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền, Mary Robinson).

Quyền có được trạng thái sức khỏe tốt nhất có thể (ở đây xem là “quyền được chăm sóc sức khỏe”) được đề cập tới lần đầu tiên trong hiến pháp của tổ chức Y tế thế giới (1946) và sau đó được nêu ra trong tuyên bố Alma Ata năm 1978 và trong Tuyên ngôn Y tế thế giới phê chuẩn bởi đại hội đồng Y tế thế giới năm 1998. Điều này được ủng hộ mạnh mẽ trong nhiều tài liệu nhân quyền khu vực cũng như quốc tế. Quyền có được trạng thái sức khỏe tốt nhất có thể được trong luật nhân quyền quốc tế là quyền có được các điều kiện xã hội, các qui tắc, pháp luật, chế tài và một môi trường trợ giúp– mà có thể đảm bảo đạt được quyền này. Cách hiểu quyền này một cách chuẩn mực nhất được thảo luận trong điều 12 của ICESCR, đã được phê chuẩn bởi 145 nước (tính đến tháng 05/2002). Vào tháng 5/2000, ủy ban về quyền văn hóa, kinh tế, xã hội, nơi kiểm soát công ước, phê chuẩn một Tuyên bố chung về quyền được chăm sóc sức khỏe. Tuyên bố chung này làm rõ nội dung và bản chất của quyền cá nhân và trách nhiệm nhà nước (các nước đã phê chuẩn). Tuyên bố chung này cho rằng quyền được chăm sóc sức khỏe có liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào sự thực hiện các quyền con người khác, bao gồm quyền có thực phẩm, nhà cửa, công việc, giáo dục, tham gia, hưởng thụ các thành tựu của áp dụng khoa học kỹ thuật, cuộc sống, không bị phân biệt, bình đẳng, ngăn cấm bạo lực, riêng tư, truy cập thông tin, và tự do tổ chức, hội họp, hoạt động.

Ngoài ra, ủy ban coi quyền được chăm sóc sức khỏe như là một quyền chung, mở rộng không những ra vấn đề chăm sóc sức khỏe phù hợp và kịp thời mà còn ra các yếu tố quyết định sức khỏe tiềm ẩn, như tiếp cận với nước sạch và điều kiện vệ sinh phù hợp, việc cung cấp thực phẩm hợp lý, dinh dưỡng và nhà cửa, nghề nghiệp, môi trường an toàn cho sức khỏe, và tiếp cận với giáo dục, thông tin về các vấn đề liên quan tới sức khỏe, bao gồm sức khỏe sinh sản và sức khỏe giới tính. Tuyên bố chung đặt ra 4 tiêu chí để đánh giá quyền được chăm sóc sức khỏe:

- Tính sẵn có. Các cơ sở y tế và y tế công cộng hoạt động tốt, hàng hóa và dịch vụ, cũng như các chương trình phải sẵn có với số lượng đủ đáp ứng.

- Khả năng tiếp cận. Mọi người đều có thể tiếp cận được với các cơ sở y tế, hàng hóa và dịch vụ, mà không có sự phân biệt trong khuôn khổ trách nhiệm của nhà nước. Khả năng tiếp cận có 4 phần đan xen lẫn nhau:

  • Không phân biệt;
  • Tiếp cận được về vị trí địa lý;
  • Tiếp cận được về mặt kinh tế (chấp nhận được về chi phí);
  • Tiếp cận được về mặt thông tin.

- Chấp nhận được. Tất cả các cơ sở y tế, hàng hóa và dịch vụ phải tôn trọng đạo đức y tế và phù hợp với môi trường văn hóa, phù hợp với vấn đề giới tính và yêu cầu vòng đời, cũng như được xây dựng với tôn chỉ tôn trọng tính bí mật và nâng cao điều kiện sức khỏe của đối tượng phục vụ.

- Chất lượng. Các cơ sở y tế, hàng hóa và dịch vụ phải phù hợp về mặt y học, khoa học và phải có chất lượng tốt.

6. Nguyên tắc không phân biệt đối xử liên quan tới vấn đề sức khỏe như thế nào?

Các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội có xu hướng chịu phần không công bằng trong các vấn đề sức khỏe. Phân biệt đối xử công khai hay không công khai phá vỡ nguyên tắc cơ bản về nhân quyền và thường là nguyên nhân gốc rễ của tình trạng sức khỏe không tốt. Trong thực tế, phân biệt đối xử có thể lan sang các chương trình y tế không được định hướng đúng đắn, hợp lý và hạn chế việc tiếp cận với các dịch vụ y tế.

Việc cấm đoán phân biệt đối xử không có nghĩa là không nên thừa nhận những khác biệt, chỉ có sự điều trị khác nhau và không điều trị các ca bệnh như nhau một cách bình đẳng phải dựa trên mục tiêu và các tiêu chí phù hợp dùng để sửa đổi sự mất cân bằng trong xã hội. Liên quan tới sức khỏe và vấn đề chăm sóc sức khỏe, vấn đề không phân biệt đã được bàn đến và có thể tóm tắt như bài trừ “bất kỳ sự phân biệt nào trong việc tiếp cận với các dịch vụ y tế và các yếu tố quyết định ngầm với sức khỏe, cũng như các phương tiện và quyền thu nhận, trên các vấn đề sắc tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị, vấn đề quốc gia, xã hội, tài sản, sinh đẻ, khuyết tật thể chất, tinh thần, tình trạng sức khỏe (bao gồm HIV/AIDS), định hướng giới tính, tình trạng công dân, chính trị, xã hội hay các vấn đề khác, mà có ý định hay có ảnh hưởng làm vô hiệu hay gây tác hại tới sự thụ hưởng công bằng quyền được chăm sóc sức khỏe.”

“Thực hành y tế công cộng chịu ảnh hưởng nặng nề từ vấn đề phân biệt đối xử không cố ý. Ví dụ, các hoạt động tiếp cận cộng đồng có thể mặc nhiên coi là tiếp cận tất cả cư dân một cách bình đẳng bằng một thông điệp duy nhất trên TV với ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất; hay là công việc phân tích ‘quên’ không đưa vào các vấn đề sức khỏe chỉ xuất hiện với một số nhóm dân cư nhất định, như ung thư vú hay bệnh tế bào liềm; hay vấn đề ‘lờ đi’ năng lực phản hồi thực tế của những nhóm cư dân khác nhau, như khi đưa ra những cảnh báo về ngộ độc chì mà không quan tâm tới khả năng tài chính để đảm bảo thanh toán được chì. Thực ra, phân biệt đối xử không cố ý là rất phổ biến nên tất cả các chính sách hay chương trình y tế nên được coi là phân biệt cho tới khi có chứng minh cụ thể, nếu không sẽ đặt gánh nặng cho ngành y tế công cộng khẳng định và đảm bảo tôn trọng vấn đề nhân quyền.” (Jonathan Mann)

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)