1. Quyền con người và chủ quyền quốc gia
Với các quốc gia, chủ quyền (sovereignty) thường được hiểu theo hai nghĩa tương đối khác nhau. Thứ nhất, chủ quyền chỉ địa vị độc lập của một quốc gia với các quốc gia khác, mỗi quốc gia có quyền tài phán độc lập trong phạm vi địa lý của mình. Thứ hai, chủ quyền hàm ý trong mỗi quốc gia có một chủ thể (thường là nhân dân hay nghị viện) có quyền chính trị và pháp lý tối cao. Tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác là một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại mà đã được trang trọng ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc (1945). Trước đây, chủ quyền quốc gia thường được hiểu theo nghĩa hẹp (chủ quyền tuyệt đối), trong đó các quốc gia không được can thiệp vào công việc được coi là “vấn đề nội bộ” của nước khác. Tuy nhiên, xu hướng chung của luật pháp quốc tế hiện nay là thay thế khái niệm chủ quyền quốc gia tuyệt đối bằng khái niệm chủ quyền quốc gia hạn chế, trong đó mở rộng sự chi phối của cộng đồng quốc tế đối với một số vấn đề trước đây được coi là “nội bộ” của quốc gia, đặc biệt là vấn đề nhân quyền. Sự thay đổi kể trên là kết quả từ sự phát triển của luật nhân quyền quốc tế và phong trào nhân quyền toàn cầu. Những phát triển đó đưa đến một nhận thức mới của nhân loại về cách thức mà các nhà nước có thể đối xử với công dân của mình, khẳng định việc này không còn thuộc về “vấn đề nội bộ của các quốc gia” mà đã trở thành vấn đề chung của cộng đồng quốc tế (international public domain). Điều này cũng có nghĩa là việc phê phán các chính phủ trong những vấn đề nhân quyền, dù xuất phát từ bất kỳ chủ thể nào như qu ốc gia khác, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ hay cá nhân, đều không cấu thành hành động can thiệp vào công việc nội bộ của các nước liên quan. Nhân loại văn minh ngày càng trở nên một cộng đồng gắn kết, sự liên hệ giữa các chính phủ và các cá nhân ngày càng chặt chẽ. Chính quyền của các quốc gia ngày càng chấp nhận đối thoại cũng như chấp nhận sự phê bình về việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền ( đôi khi được gọi là “hồ sơ nhân quyền”) của mình từ người dân trong nước cũng như từ cộng đồng quốc tế . Tuy nhiên, sự phê bình, chỉ trích hồ sơ nhân quyền của một quốc gia bởi bất kỳ chủ thể nào cần mang tính xây dựng, công bằng, cân bằng, khách quan và không mang động cơ chính trị. Điều này không phải lúc nào cũng được bảo đảm trên thực tế. Ví dụ, trong thực tế có những quốc gia lên án vi phạm nhân quyền ở nước khác nhưng lại bỏ qua những vi phạm nhân quyền của nước mình hay nước đồng minh của mình. Ở phạm vi quốc gia, có những tổ chức và cá nhân sử dụng vấn đề nhân quyền vào các mục tiêu giành quyền lực. Đây là những biểu hiện của việc “chính trị hoá nhân quyền”, làm méo mó mục đích cao đẹp của công việc này và gây ra xung đột giữa các chính phủ và những người hoạt động nhân quyền chân chính. Để hướng đến việc thúc đẩy nhân quyền và dân chủ trên phạm vi toàn cầu, các chủ thể tham gia vào tiến trình này, bất kể đó là các chính
phủ, các tổ chức hay cá nhân, đều cần có động cơ đúng đắn, thái độ nghiêm túc và có tinh thần xây dựng thực sự. Thêm vào đó, cần thiết lập các trật tự quốc tế và quốc gia trong đó các hoạt động bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền có thể được thực hiện dựa trên một hệ thống tiêu chuẩn chung bao gồm các quy định về trách nhiệm và trách nhiệm giải trình của mọi chủ thể có liên quan.
2. Quyền con người và an ninh quốc gia
Ở khắp nơi trên thế giới, bảo vệ an ninh quốc gia (national security) là một lý do thường được các nhà nước viện dẫn để hạn chế áp dụng, thậm chí tước bỏ một số quyền con người. Hai ví dụ hay được các nhà nghiên cứu trên thế giới sử dụng về vấn đề này đều liên quan đến nước Mỹ, đó là việc Hoa Kỳ dồn những kiều dân Nhật vào các trại tập trung trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai và việc nước này không chịu đóng cửa nhà tù Guantanamo mà đang được sử dụng để giam giữ hàng trăm chiến binh Hồi giáo (là tù binh trong cuộc chiến chống khủng bố ở Ápganixtan) từ năm 2001 đến nay mà không đưa họ ra xét xử. Hiện tại, mối quan hệ giữa quyền con người và an ninh quốc gia vẫn là một trong những chủ đề được thảo luận sôi nổi bởi các nhà nghiên cứu về quyền con người trên thế giới, trong đó tập trung vào các khía cạnh như: khái niệm và phạm vi của ‘an ninh quốc gia’, đặc biệt trong mối liên quan đến sự ổn định chính trị của một chế độ; việc bảo vệ quyền con người trong bối cảnh quốc gia bị đe dọa bởi nạn khủng bố... Tuy nhiên, có một điểm từ lâu cộng đồng quốc tế đã đạt được sự đồng thuận đó là, trong khi luật nhân quyền quốc tế thừa nhận nhu cầu chính đáng và tính chất hợp pháp của việc viện dẫn lý do bảo vệ an ninh quốc gia để hạn chế và giới hạn áp dụng một số quyền con người, luật cũng xác định những điều kiện chặt chẽ cho việc hạn chế và giới hạn như vậy và đòi hỏi các quốc gia phải tuân thủ nghiêm túc.
3. Quyền con người và đặc thù văn hóa
Một trong những chủ đề tốn nhiều gi ấy mực trong các cuộc tranh luận về quyền con người trong một vài thập kỷ gần đây là tính hợp lý của thuyết phổ biến (universalism) và thuyết tương đối về văn hóa (cultural relativism) về quyền con người.
Những người theo thuyết phổ biến về quyền con người ủng hộ và cổ vũ cho tính phổ biến (universality) của quyền con người (đã đề cập ở các mục trên), theo đó, quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì, chẳng hạn như về chủng tộc, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân...Trong khi đó, những người theo thuyết tương đối về văn hóa (cultural relativism) ủng hộ quan điểm cho rằng, do những khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, quốc gia, các tiêu chuẩn và việc thực thi các quyền con người ở các quốc gia, dân tộc khác nhau cần có sự khác nhau. Một ví dụ tiêu biểu cho thấy sự khác biệt về quan điểm giữa hai thuyết kể trên là vấn đề cắt âm vật của phụ nữ (female genital mutilation) mà tồn tại ở một số nước ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ. Tập tục này trên thực tế không liên quan gì đến tôn giáo, mà đơn thuần chỉ là một tập quán văn hóa. Trong khi tập tục này bị những người theo thuyết phổ biến lên án gay gắt như là một vi phạm nghiêm trọng quyền nhân thân của phụ nữ và trẻ em gái thì những người theo thuyết tương đối về văn hóa coi đó là một đặc trưng văn hóa cần phải được tôn trọng. Một số ví dụ khác nữa có thể kể liên quan đến những hạn chế về quyền với phụ nữ ở một số nước Hồi giáo, từ những cấm kỵ với phụ nữ trong việc tiếp xúc, giao tiếp với đàn ông, những hạn chế với họ trong việc tham chính, cho đến quyền được đa thê của nam giới,v.v.. Mặc dù vậy, cần thấy rằng, hai lý thuyết kể trên tuy không thống nhất, nhưng cũng không phủ định hoàn toàn lẫn nhau. Cụ thể, theo quan điểm của những người theo thuyết tương đối về văn hóa, không phải tất cả, mà chỉ một số quyền con người cần phù hợp với truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc; còn những người theo thuyết phổ biến, trong khi khẳng định các quyền con người là bẩm sinh, vốn có và cần áp dụng một cách bình đẳng cho mọi thành viên của gia đình nhân loại thì vẫn thừa nhận rằng, việc thực thi các quyền con người cần tính đến ‘sự nhạy cảm về văn hóa’ (cultural sensitivity), và cần tương thích với nguồn lực của các quốc gia (với các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa). Như vậy, rõ ràng có những điểm tương đồng nhất định về quan điểm giữa những người theo thuyết phổ biến và những người theo thuyết tương đối về văn hóa.
4. Quyền tài phán chung và trách nhiệm bảo vệ trước những vi phạm về quyền con người
Quyền tài phán chung (hay còn gọi là tài phán toàn cầu - universal jurisdiction) là một vấn đề gây tranh cãi giữa các chính phủ và các nhà luật học trên thế giới. Quyền tài phán toàn cầu có thể hiểu là việc cho phép các quốc gia điều tra, truy tố và xét xử những nghi can phạm tội kể cả khi họ thực hiện hành vi tội phạm ở ngoài lãnh thổ nước mình, bất kể nghi can đó mang quốc tịch gì, đang cư trú ở đâu, có quan hệ như thế nào với quốc gia đang thực thi quyền tố tụng. Những chính phủ và học giả ủng hộ quyền tài phán toàn cầu lập luận rằng hành vi phạm tội, đặc biệt là những tội phạm quốc tế về quyền con người như tội diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội phạm chống nhân loại… là nguy cơ đe doạ tất cả mọi người trên thế giới, do đó bất kỳ quốc gia nào cũng có thể và phải ngăn chặn, trừng trị. Trong khi đó, các chính phủ và học giả phản đối quyền tài phán toàn cầu thì lập luận rằng, chủ quyền quốc gia là bất khả xâm phạm và đã được ghi nhận bởi luật quốc tế. Chủ quyền quốc gia bao gồm quyền tài phán của quốc gia đó với những kẻ phạm tội trên lãnh thổ nước mình, và với những công dân nước mình phạm tội ở nước khác. Quyền tài phán toàn cầu, như đề cập ở trên, liên quan đến mọi tội phạm, tuy nhiên, nó đặc biệt được chú ý áp dụng với những tội phạm nghiêm trọng về quyền con người. Ví dụ tiêu biểu nhất gần đây là việc một thẩm phán Tây Ban Nha yêu cầu nhà chức trách Anh bắt và dẫn độ cựu tổng thống Chi lê, ông Pinochet, từ Anh về Tây Ban Nha để xét xử ông này về tội phạm diệt chủng (ông Pinochet sang Anh để chữa bệnh, ông bị cáo buộc phạm tội ở Chilê nhưng bị yêu cầu dẫn độ sang Tây Ban Nha để xét xử, vì trong số những nạn nhân bị thủ tiêu trong thời kỳ ông cầm quyền có nhiều công dân Tây Ban Nha). Trong khi luật quốc tế trên thực tế không có những quy định rõ ràng về vấn đề này, thì một diễn biến gần đây của luật nhân quyền quốc tế cung cấp một cơ hội áp dụng một cách phổ biến hơn quyền tài phán toàn cầu với các tội phạm về quyền con người, đó là việc Quy chế Rome về Tòa án Hình sự Quốc tế, 1998 quy định việc chuyển giao quyền tài phán và dẫn độ một cá nhân phạm các tội ác diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại và tội xâm lược từ các nước thành viên Quy chế đến Hague (La-hay, Hà Lan) để xét xử tại Tòa án (với một số điều kiện nhất định, xem các Điều 12, 13 Quy chế Rome). Cũng liên quan đến vấn đề quyền tài phán toàn cầu, gần đây có một học thuyết mới được nêu ra trong luật quốc tế, được gọi là học thuyết về “trách nhiệm bảo vệ” (responsibility to protect) của các quốc gia. Học thuyết này được xây dựng dựa trên nguyên tắc mọi quốc gia thành viên Liên hợp quốc có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do căn bản của mọi người mà đã được nêu trong Hiến chương. Theo học thuyết này, các quốc gia thành viên Liên hợp quốc có trách nhiệm tập thể trong việc bảo vệ thường dân của bất kỳ quốc gia nào trước các tội phạm quốc tế như tội diệt chủng, tội phạm chiến tranh, hành động thanh lọc sắc tộc và tội ác chống nhân loại. Xuất phát từ trách nhiệm tập thể đó, khi một quốc gia không thể hoặc không chủ động bảo vệ
người dân của mình, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc có quyền quyết định về phương thức hành động can thiệp nhằm bảo vệ thường dân ở đó. Hành động can thiệp này có thể dẫn tới việc một số kẻ gây ra những tội ác quốc tế nêu trên, bao gồm quan chức chính quyền dân sự hay quân sự của một quốc gia nhất định, có thể bị đưa ra truy tố và xét xử ở Tòa án Hình sự Quốc tế.
5. Quyền phát triển
Quyền phát triển (right to development) là một trong các quyền thuộc thế hệ thứ ba, và thường được coi là một quyền của nhóm (group rights) tuy đồng thời cũng được coi là một quyền cá nhân. Mặc dù những ý tưởng về quyền phát triển đã được thể hiện một cách gián tiếp trong nhiều văn kiện quốc tế, trong đó bao gồm Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 ( Điều 55); Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 ( Điều 28); hai Công ước về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá và Công ước về Quyền dân sự, chính trị năm 1966… nhưng phải đến năm 1986 mới có một văn kiện quốc tế riêng về quyền này (Tuyên bố về quyền phát triển). Điều 1 Tuyên bố này nêu rằng, quyền phát triển là một quyền con người không thể chia cắt hay chuyển nhượng mà mọi người, mọi dân tộc đều có quyền được tham gia, đóng góp và hưởng thụ. Tuyên bố Viên và Chương trình hành động thông qua tại H ội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai năm 1993 tái khẳng định quyền phát triển là một quyền phổ biến, bất di bất dịch và là bộ phận hợp thành của các quyền con người cơ bản. Ngoài ra, quyền phát triển còn được đề cập trong một số văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực khác như Công ước số 169 của ILO năm 1989 về quyền của các dân tộc bản địa (Điều 7); Hiến chương châu Phi về quyền của con người và quyền của các dân tộc (Lời nói đầu và Điều 22); Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển, 1992 (Nguyên tắc thứ 3)…
Mặc dù vậy, cho đến thời điểm hiện nay, quyền phát triển mới chỉ được ghi nhận trong các văn kiện “luật mềm” (không phải là các điều ước quốc tế), do đó không có hiệu lực ràng buộc với các quốc gia. Và trong vấn đề này, hiện vẫn còn khá nhiều tranh cãi giữa các quốc gia và các học giả xoay quanh các khía cạnh như: Liệu quyền phát triển có thể coi là một quyền pháp lý? Quyền phát triển có thực sự là một quyền con người? Nếu đúng là một quyền con người thì nó nên là quyền cá nhân hay là quyền của nhóm?
Nhìn chung, các quốc gia đang phát triển ủng hộ và cổ vũ cho quyền phát triển, trong khi nhiều quốc gia phát triển phản đối quyền này. Tình trạng đó được cho là xuất phát từ mong muốn được có cơ hội bình đẳng khi tham gia vào quá trình phát triển của các quốc gia thuộc thế giới thứ ba và sự né tránh ràng buộc về tài chính cũng như các trách nhiệm khác của các quốc gia phát triển. Trong khi những người ủng hộ quyền phát triển coi đây là một tiền đề để thực hiện tất cả các quyền con người khác về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá thì những người phản đối quyền này cho rằng quyền phát triển không có cơ sở pháp lý mà cơ bản chỉ là một cam kết chính trị; và nếu như có cơ sở cho quyền phát triển thì nó đã nằm trong nội hàm của quyền tự quyết dân tộc.