- 1. Căn cứ pháp lý
- 2. Khái niệm
- 3. Một số nguyên nhân gây ra tác hại nghề nghiệp
- 4. Quy định của pháp luật về quyền được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động
- 5. Quy định của pháp luật về nghĩa vụ được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động
1. Căn cứ pháp lý
Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948;
Hiến pháp năm 2013;
Bộ luật Lao động năm 2019;
Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015;
Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
2. Khái niệm
"An toàn lao động" là giải pháp phòng, chống tác động các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. Còn "vệ sinh lao động" là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có gây hại bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động. (khoản 2 và khoản 3 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015)
Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động, dẫn đến các tai nạn lao động. Yếu tố có hại là yếu tố gây hại bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động, gây ra bệnh nghề nghiệp.
Quyền được làm việc trong điều kiện vệ sinh, an toàn lao động là quyền yêu cầu thực hiện những biện pháp phòng chống các tác động của các yếu tố nguy hiểm, có hại phát sinh trong khi thực hiện công việc, giúp giảm thiểu tai nạn lao động và các bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
3. Một số nguyên nhân gây ra tác hại nghề nghiệp
Vì sao lại quy định quyền được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động đối người lao động trong các văn bản quy phạm pháp luật?. Những tác hại nghề nghiệp xảy ra trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng lao động của người lao động, gây ra các bệnh lý cũng như xảy ra các tai nạn lao động và kéo theo những hệ quả vô cùng nghiêm trọng cho gia đình, xã hội. Theo PGS.TS Đỗ Hàm, các tác hại nghề nghiệp xảy ra do những nguyên nhân sau:
- Do tổ chức lao động không hợp lý: thời gian lao động quá dài, lâu; cường độ lao động quá nặng nhọc và nhanh; chế độ lao động quá nặng nhọc và nhanh; chế độ lao động và nghỉ ngơi không hợp lý hay tư thế lao động không phù hợp với máy móc hoặc phương thức, phương tiện lao động. Khi lao động lâu, dài hay lao động với cường độ nặng, nhanh làm cho năng lượng bị tiêu hao quá nhiều và liên tục dẫn đến gây đau mỏi, nghiêm trọng hơn thì dẫn đến tai nạn lao động.
- Liên quan đến quá trình sản xuất: các yếu tố vật lý (vi khí hậu, bức xạ, áp lực không khí không bình thường, ồn rung chuyển,...), các yếu tố lý hóa (bụi, hơi khí độc), vi sinh vật (các vi sinh trùng, ký sinh trùng, các sản phẩm sinh học có tính chất dị nguyên,...) trong môi trường lao động có thể phát sinh hoặc tăng tác dụng xấu lên cơ thể người lao động.
- Liên quan tới an toàn, bảo hộ lao động và điều kiện vệ sinh kém như: ánh sáng thiếu làm giảm khả năng hoạt động của thị giác, môi trường thiếu thông thoáng làm giảm khả năng trao đổi nhiệt, khí,...
Quyền được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động trở thành nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Lao động và được quy định cụ thế, chi tiết trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động.
4. Quy định của pháp luật về quyền được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động
Điều 22 Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948 khẳng định quyền được đảm bảo an sinh xã hội là quyền con người: "Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế và theo cách tổ chức cùng tài nguyên của quốc gia".
Và khoản 2 Điều 35 Hiến pháp năm 2013: "Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi". Người làm công ăn lương là người lao động Việt Nam và người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được đảm bảo về quyền được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động. Theo Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người nước ngoài là người có quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam. Khoản 7 Điều 6 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 đã quy định: "Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam có quyền và nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động như đối với người lao động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này; riêng việc tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được thực hiện theo quy định của Chính phủ".
Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định đối tượng có quyền được bảo đảm làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động gồm: người lao động làm việc theo hợp đồng, người lao động làm việc không theo hợp đồng; cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; người học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Người lao động có quyền được làm việc trong điều kiện công bằng, an toàn, vệ sinh lao động thì sẽ là nghĩa vụ, là trách nhiệm của người sử dụng lao động bảo đảm cho người lao động được làm việc an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động. Nhưng bản thân người lao động phải tự giác tuân thủ đầy đủ các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động để phòng ngừa, loại trừ, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, có hại khi thực hiện công việc.
Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2019 thì người lao động có quyền:
Thứ nhất, được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, vệ sinh lao động; yêu cầu người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động, tại nơi làm việc.
- Thù lao cho tất cả mọi người làm công tối thiểu phải đảm bảo: mức lương theo công việc hay chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu. Mức lương tối thiểu là mức lương phải đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Khoản 3 Điều 90 Bộ luật Lao động năm 2019: "Người sử dụng lao động phải đảm bảo trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau".
- Những điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh.
- Điều kiện làm việc của người lao động được đánh giá qua môi trường xung quanh khi họ thực hiện lao động, dựa trên những yếu tố sau: độ bụi, khí độc, độ ồn, thiết bị lao động, các loại thiết bị phục vụ sản xuất và đảm bảo sức khỏe, an toàn cho người lao động, việc đảm bảo an toàn vệ sinh của máy móc, thiết bị sản xuất, máy móc, thiết bị sản xuất thuận lợi cho các thao tác của người lao động,...Những yếu tố này không được đảm bảo theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thì có thể gây ra các tác hại nghề nghiệp dẫn đến các bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động. Nhà nước cũng đưa ra các tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động về không gian, độ thoáng, độ sáng,...nhưng người sử dụng lao động phải có trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn vào trong quá trình lao động của người lao động.
- Cơ hội ngang nhau cho mọi người trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc.
- Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ. Sau thời gian làm việc liên tục hàng tiếng đồng hồ, người lao động cần có thời gian nghỉ ngơi để giảm căng thẳng thần kinh, bổ sung thêm năng lượng. Họ cũng cần thời gian rảnh rỗi bên gia đình, người thân của mình và chăm sóc bản thân,...Sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi, giới hạn hợp lý số giờ làm việc giúp người lao động cân bằng được giữa công việc với gia đình và bản thân và giảm thiểu các bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động.
- Không phân biệt người lao động là nam hay nữ, già hay trẻ, người lao động khuyết tật, người lao động trong nước và nước ngoài,...thì tất cả mọi người đều có quyền được hưởng điều kiện làm việc công bằng như được bồi thường bằng hiện vật khi làm công việc có yếu tố nguy hại vượt tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động cho phép.
Thứ hai, được cung cấp thông tin đầy đủ về các yếu tố nguy hại, yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc và những biện pháp phòng, chống; được đào tạo, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. Người lao động cần được biết đầy đủ thông tin về các yếu tố nguy hại, yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc của mình, từ đó thực hiện những biện pháp phòng chống để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của chính mình. Nhiều người lao động vẫn còn thiếu ý thức trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của doanh nghiệp trong công tác an toàn vệ sinh lao động.
Thứ ba, được thực hiện chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; được người sử dụng lao động đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được hưởng đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được trả phí khám giám định thương tật, bệnh tật do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động và được trả phí khám giám định trong trường hợp kết quả giám định đủ điều kiện để điều chỉnh tăng mức hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Thứ tư, yêu cầu người sử dụng lao động bố trí công việc phù hợp sau khi điều trị ổn định do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Việc bố trí công việc cần phải phù hợp với trình độ, năng lực, sức khỏe,...đối với người lao động sau khi điều trị ổn định do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Thứ năm, từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được đủ trả tiền lương và không bị coi là vi phạm kỷ luật lao động khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình nhưng phải báo ngay cho người quản lý trực tiếp để có phương án xử lý; chỉ tiếp tục làm việc khi người quản lý trực tiếp và người phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động đã khắc phục các nguy cơ để đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động.
Thứ sáu, khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện khi người sử dụng vi phạm quy định của pháp luật hoặc không thực hiện đúng giao kết về an toàn, vệ sinh lao động trong hợp đồng hay thỏa ước lao động tập thể theo quy định của pháp luật. Người lao động chủ yếu xuất phát từ các vùng nông thôn, chưa qua đào tạo trường lớp nên việc xây dựng tác phong công nghiệp gắn với an toàn lao động vẫn còn hạn chế. Nhiều người được huấn luyện về an toàn vệ sinh lao động nhưng do chủ quan, thiếu ý thức nên gây ra những tai nạn đáng tiếc cho chính mình, đồng nghiệp, gia đình và xã hội.
5. Quy định của pháp luật về nghĩa vụ được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động
Người lao động là nguồn nhân lực trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho doanh nghiệp bằng sức lao động của mình. Chính vì vậy, người sử dụng lao động cần đảm bảo cho sự an toàn của người lao động tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra:
Thứ nhất, xây dựng, tổ chức thực hiện chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình cho người lao động và những người có liên quan; đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
Thứ hai, tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội dung, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động. Đối với những người lao động làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hoặc đặc biệt nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hay người lao động là phụ nữ, người chưa thành niên, người khuyến tật, người cao tuổi thì người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho những đối tượng này ít nhất 06 tháng một lần. Và lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp. Những chi phí khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động do người sử dụng lao động chi trả sẽ do người sử dụng lao động chi trả.
Thứ ba, không được buộc người lao động tiếp tục làm công việc hoặc trở lại nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của người lao động.
Thứ tư, cử người giám sát, kiểm tra việc thực hiện nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, bố trí bộ phận hoặc người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động; phối hợp với Ban chấp hành công đoàn cơ sở thành lập mạng lưới an toàn, vệ sinh lao động; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động.
Thứ sáu, thực hiện việc khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng; thống kê, báo cáo tình hình thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động; chấp hành quyết định của thanh tra chuyên ngành về an toàn, vệ sinh lao động.
Thứ bảy, lấy ý kiến Ban chấp hành công đoàn cơ sở khi xây dựng kế hoạch, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động. Không quan tâm đầu tư cho việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; không tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cho người lao động không đầy đủ, mang tính đối phó; không tổ chức đánh giá, kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố nguy hại;....Đây là những nguyên nhân dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, tính mạng của người lao động.
(sưu tầm và biên tập)