Bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa ra vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật. Cũng như khái niệm bị can, khái niệm bị cáo cũng là khái niệm mang tính hình thức, căn cứ vào văn kiện tố tụng được áp dụng đối với người đó. Một người sẽ trở thành bị cáo khi bị toà án quyết định đưa ra xét xử, quyết định đó có thể đúng nhưng cũng có thể sai. Vì vậy, khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể của tội phạm. Trên thực tế bị cáo cũng có thể không phải là chủ thể của tội phạm và ngược lại. BỊ cáo cũng không phải là người có tội, bị cáo chỉ trở thành người có tội nếu khi xét xử họ bị toà án ra bản án kết tội và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật.

1. Quyền của bị cáo

- Nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của tòa án và các quyết định tố tụng khác theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyền quan trọng của bị cáo. Dựa vào nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo biết được tội danh họ bị đưa ra xét xử, thời gian, địa điểm mở phiên toà, tên của những người tham gia tiến hành tố tụng, vật chứng cần xem xét tại phiên toà V.V.. Trên cơ sở đó, họ mới có thể thực hiện các quyền của mình như quyền tham gia phiên toà, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành hoặc tham gia tố tụng, quyền yêu cầu xem xét thêm vật chứng mới... và nhất là quyền được bào chữa. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được giao cho bị cáo chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên toà. Nếu không được bảo đảm quyền này, bị cáo có quyền yêu cầu hoãn phiên toà.

- Bị cáo cũng có quyền nhận các quyết định khác có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình như quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bản án; quyết định của toà án và các quyết định khác theo quy định của pháp luật. Các quyết định này là căn cứ pháp lí để bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ có liên quan đến các quyết định đó.

- Tham gia phiên toà: Tại phiên toà, bị cáo bình đẳng với kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ tại phiên toà. Vì vậy, việc bị cáo có quyền tham gia phiên toà sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc bị cáo thực hiện quyền bào chữa và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án phải đảm bảo quyền bình đẳng trước toà án cùa bị cáo và chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo trong những trường hợp luật định, những trường hợp khác phải hoãn phiên toà.

- Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ: Chủ toạ phiên toà phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo trong thủ tục bắt đầu phiên toà. BỊ cáo cần phải được biết họ có các quyền và nghĩa vụ gì để họ có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó theo đúng quy định của pháp luật.

- Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị triệu tập người làm chóng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên toà: Bị cáo có quyền đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện một số hoạt động để bảo đảm quyền lợi của mình. Họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định về những vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự, quyền và lợi ích hợp pháp của mình; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết, nếu không chấp nhận phải thông báo bằng văn bản và nói rõ lí do; có quyền đề nghị triệu tập người tham gia tố tụng và người có tham quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên toà để làm rõ nội dung của vụ án. Là đối tượng bị đưa ra xét xử, là người bị buộc tội trong vụ án hình sự, việc xét xử như thế nào ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của bị cáo, vì vậy bị cáo có quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tổ tụng, người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật khi có căn cứ rõ ràng để cho rằng những người này cóthể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Bị cáo có thể thực hiện quyền này trước hoặc tại phiên toà xét xử trước khi hội đồng xét xử xét hỏi. Chánh án toà án, hội đồng xét xử phải xem xét và giải quyết yêu cầu của bị cáo, khi cần thiết hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà.

- Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu: Trong giai đoạn xét xử, bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật. Những chứng cứ tài liệu, đồ vật mà bị cáo đưa ra thường có ý nghĩa gỡ tội, chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc chứng minh những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử phải kiểm tra, xác minh và đánh giá các đồ vật, tài liệu đó có phải là chứng cứ trong vụ án không và giá trị của nó frong việc xác định sự thật của vụ án.

Bị cáo cũng có quyền đưa ra những yêu cầu như yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét, yêu cầu hoãn phiên toà... Các yêu cầu này phải được toà án xem xét giải quyết.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn bãi nại vụ án hình sự, giảm nhẹ hình phạt mới nhất 2021

- Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;

- Tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa: Quyền bào chữa được thực hiện ngay từ khi một người trở thành đối tượng buộc tội và được thực hiện trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng quyền này được thể hiện rõ nét nhất qua việc bị cáo tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa tại phiên toà. Trong khi tranh luận, bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo, bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa. Toà án phải tôn trọng quyền bào chữa của bị cáo. Việc tôn trọng quyền bào chữa của bị cáo không chỉ là đảm bảo quyền lợi cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo và dân chủ trong tố tụng hình sự mà còn là điều kiện quan trọng để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.

- Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưạ ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;

- Đề nghị chủ toạ phiên toà hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên toà nếu được chủ toạ đồng ý; tranh luận tại phiên toà: Việc bị cáo được đề nghị chủ toạ phiên toà hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên toà nếu được chủ toạ đồng ý thể hiện địa vị pháp lí của bị cáo được nâng cao, có vai trò chủ động hơn trong hoạt động xét hỏi. Bị cáo có quyền tranh luận, đưa ra những lập luận của mình và đối đáp với những ý kiến không thống nhất của các chủ thể khác.

- Nói lời sau cùng trước khi nghị án: Sau khi hội đồng xét xử kết thúc xét hỏi và tranh luận, bị cáo được nói lời sau cùng trước khi nghị án. Pháp luật quy định quyền này là tạo điều kiện để bị cáo có cơ hội được bày tỏ thái độ và nguyện vọng của mình trước khi hội đồng xét xử đưa ra những quyết định đối với vụ án. Trong khi nói lời sau cùng, bị cáo có quyền trình bày mọi vấn đề liên quan đến vụ án, tỏ thái độ của mình đối với việc buộc tội V.V.. Hội đồng xét xử phải chú ý và tôn trọng quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án. Nhiều trường hợp, khi nói lời sau cùng, bị cáo lại đưa ra những tình tiết có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, khi đó hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi.

- Xem biên bản phiên toà, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên toà;

- Kháng cáo bản án, quyết định của toà án: Kháng cáo là quyền chống lại bản án và quyết định của toà án, yêu cầu được xét xử lại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án và các quyết định đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của toà án. Khi kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, toà án cấp phúc thẩm phải xem xét và giải quyết kháng cáo của bị cáo. Để bị cáo có thể yên tâm thực hiện quyền kháng cáo, luật tố tụng hình sự quy định, nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng khác thì toà án cấp phúc thẳm không được sửa án theo hướng bất lợi cho bị cáo.

- Khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Bị cáo có quyền khiếu nại quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng. Những quyết định này không thuộc đối tượng kháng cáo như quyết định áp dụng, thay đổi huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn... Bị cáo cũng có quyền khiếu nại hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nếu các hành vi đó là trái pháp luật.

- Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Nghĩa vụ của bị cáo

>> Xem thêm:  Hỏi cung bị can là gì ? Phân tích quy định pháp luật về hỏi cung bị can ?

- Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của toà án. Trường hợp vắng mặt không vì lí do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải; nếu bỏ ữốn thì bị truy nã;

- Chấp hành quyết định, yêu cầu của toà án.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Khởi tố bị can là gì ? Quy định pháp luật về khởi tố bị can