Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong đó quyền sử dụng đất được xem là một loại tài sản có giá trị lớn và mang tính đặc thù. Thay vì chỉ sử dụng tiền hoặc tài sản hữu hình khác để góp vốn, pháp luật cho phép cá nhân, tổ chức sử dụng quyền sử dụng đất để góp vốn vào tổ chức kinh tế, qua đó tạo điều kiện khai thác tối đa giá trị kinh tế của đất đai, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất không chỉ đơn thuần là tiếp nhận một tài sản để bổ sung vốn điều lệ, mà còn làm phát sinh hàng loạt quan hệ pháp lý liên quan trực tiếp đến quản lý, sử dụng đất đai. Do đó, pháp luật đất đai đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế khi nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất, nhằm bảo đảm việc sử dụng đất đúng quy hoạch, đúng mục đích, đồng thời hài hòa lợi ích của Nhà nước, người góp vốn và tổ chức kinh tế. Việc nghiên cứu và nắm vững các quy định này là cơ sở quan trọng để tổ chức kinh tế chủ động trong hoạt động đầu tư, hạn chế rủi ro pháp lý và sử dụng đất hiệu quả, bền vững.
1. Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là gì?
Theo khoản 22 điều 3 Luật đất đai 2024, Góp vốn bằng quyền sử dụng đất là một hình thức đầu tư vốn đặc thù, được xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện giữa các bên tham gia quan hệ góp vốn, trong đó quyền sử dụng đất – một loại quyền tài sản có giá trị kinh tế lớn và chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước – được sử dụng làm tài sản góp vốn để hình thành hoặc bổ sung vốn điều lệ của tổ chức kinh tế. Thông qua hoạt động này, người sử dụng đất chuyển giao quyền sử dụng đất hợp pháp của mình cho tổ chức kinh tế theo trình tự, thủ tục và điều kiện do pháp luật quy định.
Về mặt pháp lý, bản chất của việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất là sự chuyển quyền sử dụng đất từ cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức đang có quyền sử dụng đất hợp pháp sang tổ chức kinh tế nhận vốn góp. Việc chuyển quyền này không làm thay đổi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, bởi đất đai vẫn thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, mà chỉ làm phát sinh sự thay đổi về chủ thể có quyền sử dụng đất trong quan hệ pháp luật đất đai. Từ thời điểm hoàn tất thủ tục pháp lý, tổ chức kinh tế trở thành người sử dụng đất hợp pháp và được thực hiện các quyền, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng theo quy định của pháp luật.
Góp vốn bằng quyền sử dụng đất có thể được thực hiện trong hai giai đoạn khác nhau của quá trình tồn tại và phát triển của tổ chức kinh tế. Thứ nhất, việc góp vốn được thực hiện để thành lập tổ chức kinh tế, trong đó quyền sử dụng đất được đưa vào làm một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ ban đầu, tạo cơ sở vật chất quan trọng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh ngay từ khi tổ chức kinh tế được hình thành. Thứ hai, việc góp vốn được thực hiện trong quá trình tổ chức kinh tế đang hoạt động, nhằm góp thêm vốn điều lệ, mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường năng lực tài chính hoặc phục vụ việc điều chỉnh chiến lược đầu tư, kinh doanh của tổ chức kinh tế.
Về phương diện kinh tế – xã hội, hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất cho phép khai thác giá trị kinh tế của đất đai một cách linh hoạt, góp phần huy động nguồn lực đất đai vào hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh mà không nhất thiết phải chuyển đổi thành tiền mặt. Qua đó, đất đai không chỉ được nhìn nhận là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là nguồn vốn quan trọng, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển doanh nghiệp, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Tuy nhiên, do quyền sử dụng đất gắn liền với lợi ích công cộng, an ninh, quốc phòng và yêu cầu phát triển bền vững, việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện và hạn chế do pháp luật quy định. Cụ thể, chỉ những loại đất, chủ thể và trường hợp pháp luật cho phép mới được dùng để góp vốn; việc góp vốn phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đúng mục đích sử dụng đất, bảo đảm thời hạn sử dụng đất và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc tuân thủ các điều kiện này vừa bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia góp vốn, vừa góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai.
2. Tổ chức kinh tế nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức khác có các quyền và nghĩa vụ gì?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Đất đai 2024 thì tổ chức kinh tế khi nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ cá nhân hoặc tổ chức kinh tế khác sẽ có những quyền lợi và nghĩa vụ được quy định tại Điều 33 của Luật Đất đai, trong các trường hợp cụ thể sau:
- Đất của tổ chức kinh tế góp vốn có nguồn gốc từ việc Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, hoặc do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Đất của cá nhân góp vốn mà không phải là đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm
Theo đó, đối với trường hợp tổ chức kinh tế nhận góp vốn bằng quyền sử dung đất của cá nhân mà thửa đất góp vốn không thuộc loại đất Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hằng năm, thì tổ chức kinh tế nhận góp vốn có các quyền nghĩa vụ sau đây:
- Quyền chung của người sử dụng đất Điều 26 Luật Đất đai 2024 và nghĩa vụ chung quy của người sử dụng đất tại Điều 31 Luật Đất đai 2024
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất
- Cho thuê quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đối với trường hợp được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; cho thuê lại quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê
- Tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước; tặng cho quyền sử dụng đất cho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc mở rộng đường giao thông theo quy hoạch; tặng cho quyền sử dụng đất để làm nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết gắn liền với đất theo quy định của pháp luật
- Thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật
- Góp vốn bằng quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất với tổ chức trong nước, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật
3. Quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế khi giải thể, phá sản
Theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Đất đai 2024 thì khi hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã giải thể hoặc phá sản, quyền sử dụng đất của các tổ chức này sẽ được xử lý theo các quy định cụ thể dưới đây, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và công bằng trong quá trình phân giải tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất:
- Đối với đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, hoặc đất có nguồn gốc từ việc mua tài sản gắn liền với đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân khác
Trường hợp hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã sử dụng đất có nguồn gốc từ việc Nhà nước giao đất mà không thu tiền sử dụng đất, hoặc đất đã được giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, hoặc đất được mua tài sản gắn liền với đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ các chủ thể khác với sự hỗ trợ của Nhà nước về tài chính (như việc miễn giảm tiền sử dụng đất, thuê đất), thì khi hợp tác xã giải thể hoặc phá sản, Nhà nước sẽ thu hồi quyền sử dụng đất đó.
Quy trình thu hồi đất này được thực hiện theo các quy định của Luật Đất đai và pháp luật liên quan đến hợp tác xã. Điều này đồng nghĩa với việc hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã sẽ không còn quyền sử dụng đất sau khi giải thể, và quyền này sẽ chuyển giao lại cho Nhà nước, đặc biệt là đối với các trường hợp đất đai có sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc thu tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất.
Quá trình thu hồi này không chỉ đảm bảo việc xử lý tài sản một cách công bằng mà còn giúp Nhà nước quản lý nguồn tài nguyên đất đai một cách hiệu quả, đồng thời tái phân bổ các quyền sử dụng đất trong các trường hợp hợp tác xã không còn tồn tại.
- Đối với đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, hoặc đất được mua tài sản gắn liền với đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân khác mà không có nguồn gốc hỗ trợ từ Nhà nước:
Trong trường hợp hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã sử dụng đất có nguồn gốc từ việc Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất (thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê), hoặc đất mua tài sản gắn liền với đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân khác mà không có sự hỗ trợ tài chính từ Nhà nước, hoặc đất do thành viên của hợp tác xã góp quyền sử dụng vào, thì quyền sử dụng đất này không bị Nhà nước thu hồi khi hợp tác xã giải thể hoặc phá sản. Thay vào đó, quyền sử dụng đất đó sẽ thuộc về hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã và sẽ được xử lý theo quy định của Điều lệ hợp tác xã hoặc nghị quyết của đại hội thành viên.
Điều này có nghĩa là đất sẽ không bị thu hồi bởi Nhà nước, và hợp tác xã có thể tiếp tục quản lý hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó theo các quy định nội bộ của mình. Quy trình xử lý quyền sử dụng đất trong trường hợp này được thực hiện theo các quy định của pháp luật về hợp tác xã và các quyết định của các thành viên hợp tác xã.
- Quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế là doanh nghiệp khi giải thể, phá sản: Theo khoản 3 điều 36 Luật đất đai 2024 thì Đối với các tổ chức kinh tế là doanh nghiệp, khi tiến hành giải thể hoặc phá sản, quyền sử dụng đất của doanh nghiệp sẽ được xử lý theo các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về phá sản, và các quy định pháp lý liên quan khác. Cụ thể, trong quá trình giải thể hoặc phá sản, doanh nghiệp sẽ phải hoàn tất các nghĩa vụ tài chính, bao gồm nghĩa vụ liên quan đến quyền sử dụng đất. Các tài sản, bao gồm quyền sử dụng đất, sẽ được thanh lý và phân chia theo các quy định pháp lý, nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và tuân thủ đúng các trình tự pháp luật hiện hành.
Tóm lại, việc xử lý quyền sử dụng đất của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và doanh nghiệp trong trường hợp giải thể hoặc phá sản sẽ tùy thuộc vào nguồn gốc đất đai và các quy định pháp lý liên quan đến việc sử dụng đất trong các trường hợp này. Mục tiêu là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan và đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong việc xử lý tài sản khi tổ chức kinh tế không còn hoạt động.
Kết luận
Có thể khẳng định rằng, việc quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh đất đai vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt, vừa là nguồn lực quan trọng của quốc gia. Các quyền được pháp luật ghi nhận tạo điều kiện để tổ chức kinh tế khai thác, sử dụng đất phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh một cách hợp pháp và hiệu quả; trong khi đó, các nghĩa vụ đi kèm là công cụ bảo đảm kỷ cương pháp luật, phòng ngừa tình trạng sử dụng đất sai mục đích, lãng phí hoặc xâm hại lợi ích công cộng.
Vì vậy, tổ chức kinh tế khi nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất cần tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật đất đai và pháp luật có liên quan, từ khâu tiếp nhận, đăng ký quyền sử dụng đất cho đến quá trình quản lý, khai thác và sử dụng đất. Việc thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ không chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức kinh tế và người góp vốn, mà còn góp phần sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội bền vững trong dài hạn.
Liên hệ: 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ, tư vấn pháp luật nhanh chóng