Khách hàng: Xin chào Luật sư. Mong Luật sư phân tích về các nghiên cứu về lý luận quản lý, đặc biệt là trường phái quản lý cổ điển.
Xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
1. Harold Koong
Harold Koong là nhà khoa học về quản lý người Mỹ, một trong những nhân vật tiêu biểu chủ yếu của trường phái quá trình quản lý. Ông đỗ tiến sĩ lúc còn trẻ và có thời gian dài giảng dạy về khoa học quản lý ở Mỹ và các nước Châu Âu, đồng thời làm cố vấn cho một số công ty lớn ở Mỹ, Hà Lan, Nhật Bản. Ông là Chủ tịch Hội Nghiên cứu quản lý của Mỹ, là giáo sư về khoa học quản lý tại Viện Nghiên cứu về quản lý của trường Đại học California. Từ sau năm 1941, ông đã viết hơn 20 cuốn sách và công bố gần 100 luận văn về quản lý. Các tác phẩm của ông đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng như Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Indonesia, Nga, Nhật,... Các tác phẩm chính của ông gồm “Những nguyên lý về khoa học quản lý” (viết cùng với Xilin, Otangna, xuất bản năm 1955, sau đó có nhiều lần sửa chữa, tái bản), “Rừng lý luận quản lý” (1961), “Lại bàn về rừng lý luận quản lý” (1980), “Tiến tới nền khoa học quản lý thống nhất” (1964)...
2. Các nghiên cứu về quản lý của Harold Koong
Tháng 2 năm 1961, trong bài luận văn “Rừng lý luận quản lý’’, ông đã nói rằng, tại phương Tây, mãi đến thế kỷ XX, đặc biệt là vào những năm 40, người ta mới nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quản lý. Một loạt tác phẩm sớm nhất về quản lý đều do các nhà quản lý có nhiều kinh nghiệm thực tế viết ra như Taylor, Fayol... Nhưng mãi đến thời kỳ đầu của thập kỷ 60, các tác phẩm mang tính học thuật về quản lý mới xuất hiện một cách rầm rộ như “nấm mùa xuân”, dẫn đến sự rối loạn, mỗi người có một quan điểm khác nhau.
Taylor đã phân tích một cách có lý lẽ về quản lý cấp phân xưởng, Fayol đã xuất phát từ quan điểm quản lý nói chung để tổng kết một cách sâu sắc kinh nghiệm quản lý... Đầu những năm 60, các loại lý luận quản lý và các trường phái quản lý đã phát triển thành một rừng lý luận quản lý. Để làm rõ một số vấn đề về lý luận quản lý lúc đó, khiến mọi người có thể bước ra khỏi cái rừng ấy, làm cho công tác nghiên cứu đạt được nhiều thành quả to lớn hơn, Koong đã phân tích các trường phái về lý luận quản lý, vạch rõ sự khác nhau chủ yếu giữa các trường phái, đồng thời đưa ra ý kiến thanh lý cái” rừng” lý luận này. Vào đầu những năm 60, sáu trường phái quản lý chủ yếu đã hình thành. Đó là trường phái quá trình quản lý, trường phái kinh nghiệm, trường phái hành vi con người, trường phái hệ thống xã hội, trường phái lý luận quyết sách, trường phái toán học.
19 năm sau khi phát biểu luận văn nói trên, Koong đã viết bài “Lại bàn về rừng lý luận quản lý”, được nhiều người thảo luận. Rất nhiều người nêu ra vấn để, phải chăng lý luận quản lý vẫn nằm trong trạng thái “rừng rậm”. Qua nhiều lần nghiên cứu, người ta cho rằng, rừng lý luận quản lý không những tồn lại mà lại càng đa dạng hơn và khó đi qua được. Số lượng trường phái về lý luận quản lý ngày càng mở rộng, phát triển thành: trường phái kinh nghiệm, trường phái quan hệ giữa người với người, trường phái hành vi quần thể, trường phái hệ thống hiệp tác xã hội, trường phái hệ thống kỹ thuật xã hội, trường phái quyết sách, trường phái hệ thống, trường phái toán học, trường phái lý luận quyền biến, trường phái vai trò giám đốc, trường phái kinh doanh (hoặc quản lý quá trình làm việc, quản lý theo chức năng).
Sự phân tích của Koong về hiện trạng lý luận quản lý nói trên và cuộc tranh luận tại cuộc hội thảo ở trường Đại học California đã khiến mọi người càng cảm thấy hứng thú đối với việc nghiên cứu nguyên tắc quản lý, tính phổ biến của quản lý và ngữ nghĩa của nó cũng như những vấn đề khác nhằm tìm kiếm một học thuyết quản lý thống nhất.
Vào những năm 60, cuốn sách giáo khoa “Những nguyên lý của khoa học quản lý” của Mỹ đã muốn tổng hợp những khác biệt xuất hiện trong rừng lý luận quản lý vào cơ cấu của quá trình quản lý, đưa lý luận hành vi, phân tích toán học, lý luận quyết sách... vào công việc nghiên cứu theo kiểu truyền thống nhiều hơn. Không ít người đã áp dụng phương pháp nghiên cứu mang tính đa ngành, muốn tổng hợp một số lĩnh vực khác như đặc tính hình thái, vận trù học, lý luận kinh tế, xử lý số liệu của máy tính điện tử... vào một nồi, khiến cho khoa học quản lý biến thành một nồi lẩu thập cẩm.
Mỗi trường phái về lý luận quản lý đều có cống hiến nhất định, cung cấp cho các nhà quản lý những kiến giải và phương pháp hữu hiệu (với tư cách là công cụ, phương tiện thay vì là nội dung quản lý).
Với cuộc cách mạng thông tin thai nghén từ đầu thế kỷ XX, thế giới bắt đầu bước vào một xã hội “hậu công nghiệp” với các cách định danh chưa thống nhất. Từ đó, bắt đầu xuất hiện một số thuyết quản lý mới, đầu tiên là thuyết “tổng hợp và thích nghi” do Peter Drucker (1909, người Anh) đề xướng qua tác phẩm nổi tiếng “Quản lý trong thời đại bão táp”. Tuy nhiên hãy còn quá sớm để định hình một trường phái quản lý “hậu hiện đại”.
Việc phân loại các trường phái chủ yếu có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu về lý luận quản lý. Điều đáng quan tâm hơn đối với các người làm quản lý thực tiễn là nội dung cụ thể của từng thuyết quản lý, bất kể thuộc trường phái nào miễn là có thể vận dụng phù hợp với điều kiện cụ thể của môi trường quản lý hiện hữu.
3. Trường phái cổ điển (Thuyết Taylor)
Xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, trường phái quản lý cổ điển - còn gọi là trường phái phổ biến - gồm hai thuyết quản lý chính: thuyết quản lý theo khoa học (do F.W.Taylor là đại diện chủ yếu) và thuyết quản lý tổng quát (do H.Fayol đề xướng). Trường phái cổ điển đã đặt nền móng đầu tiên cho khoa học quản lý với những đóng góp có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ hoạt động quản lý trong xã hội công nghiệp, mà những nội dung cơ bản của nó vẫn có giá trị cao cho đến bây giờ.
3. Frederick Winslow Taylor
Frederick Winslow Taylor (1856 - 1916) xuất thân là một công nhân cơ khí ở Mỹ từng đảm nhiệm các chức vụ đốc công, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư. Với kinh nghiệm dày dặn của mình, ông đã phân tích quá trình vận động (thao tác) của công nhân, nghiên cứu quy trình lao động hợp lý (với các hoạt động không trùng lặp, tốn ít thời gian và sức lực) để đạt được năng suất cao. Đó là sự hợp lý hóa lao động, theo nghĩa rộng là tổ chức lao động một cách khoa học. Với các công trình nghiên cứu “Quản lý ở nhà máy” (1903), “Những nguyên lý quản lý theo khoa học” (Principles of scientific management) năm 1911, ông đã hoàn thành thuyết Quản lý theo khoa học, mở ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý ở Mỹ. Thuyết này sau đó được Henry Ford ứng dụng qua việc lập ra hệ thống sản xuất theo dây chuyền dài 24km trong nhà máy ôtô con đạt công suất 7000 xe mỗi ngày (là kỷ lục thế giới thời đó). Ngoài ra, Taylor còn viết nhiều tác phẩm có giá trị khác. Ông được coi là “người cha của lý luận quản lý theo khoa học”.
4. Các nguyên tắc xây dựng nội dung quản lý theo khoa học
Nội dung quản lý theo khoa học dựa trên các nguyên tắc sau:
- Xác định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày của công nhân với các thao tác và thời gian cần thiết để bố trí quy trình công nghệ phù hợp (chia nhỏ các phần việc) và xây dựng định mức cho từng phần việc. Định mức được xây dựng qua thực nghiệm (bấm giờ từng động tác).
- Lựa chọn công nhân thành thạo từng việc, thay cho công nhân “vạn năng” (biết nhiều việc song không thành thục). Các thao tác được tiêu chuẩn hóa cùng với các thiết bị, công cụ, vật liệu cũng được tiêu chuẩn hóa và môi trường làm việc thuận lợi. Mỗi công nhân được gắn chặt với một vị trí làm việc theo nguyên tắc chuyên môn hóa cao độ.
- Thực hiện chế độ trả lương (tiền công) theo số lượng sản phẩm (hợp lệ về chất lượng) và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực của công nhân.
- Phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý. Cấp cao tập trung vào chức năng hoạch định, tổ chức và phát triển kinh doanh, còn cấp dưới làm chức năng điều hành cụ thể. Thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức năng và theo trực tuyến, tổ chức sản xuất theo dây chuyền liên tục.
Với các nội dung nói trên, năng suất lao động tăng vượt bậc, giá thành thấp; kết quả cuối cùng là lợi nhuận cao để cả chủ và nhân viên đều có thu nhập cao.
5. Tư tưởng chính của Thuyết Taylor
Qua các nguyên tắc kể trên, có thể rút ra các tư tưởng chính của thuyết Taylor là: tối ưu hóa quá trình sản xuất (qua hợp lý hóa lao động, xây dựng định mức lao động); tiêu chuẩn hóa phương pháp thao tác và điều kiện tác nghiệp; phân công chuyên môn hóa (đối với lao động của công nhân và đối với các chức năng quản lý); và cuối cùng là tư tưởng “con người kinh tế” (qua trả lương theo số lượng sản phẩm để kích thích tăng năng suất và hiệu quả sản xuất). Từ những tư tưởng đó, đã mở ra cuộc cải cách về quản lý doanh nghiệp, tạo được bước tiến dài theo hướng quản lý một cách khoa học trong thế kỷ XX cùng với những thành tựu lớn trong ngành chế tạo máy.
Mặt trái của thuyết này, trước hết là, với định mức lao động thường rất cao đòi hỏi công nhân phải làm việc cật lực. Hơn nữa, người thợ bị gắn chặt với dây chuyền sản xuất tới mức biến thành những “công cụ biết nói”, bị méo mó về tâm sinh lý, và như vậy là thiếu tính nhân bản. Từ đó, đã từng có ý kiến cho rằng thuyết này đã né tránh, dung hòa đấu tranh giai cấp mang tính cách mạng. Tuy nhiên, tương tự nhiều thành tựu khác của khoa học kỹ thuật, vấn đề là ở người sử dụng với mục đích nào. Chính vì thế, trong khi Lênin phê phán đó là “khoa học vắt mồ hôi công nhân”, ông vẫn đánh giá rất cao như một phương pháp tổ chức lao động tạo được năng suất cao, cần được vận dụng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó điều kiện lao động được cải thiện và lợi nhuận từ lao động thặng dư được sử dụng để nâng cao mức sống vật chất, tinh thần toàn xã hội.
Từ tinh thần cốt lõi ban đầu, đã thu hút nhiều nhà quản lý có tài năng tham gia “Hiệp hội Taylor” để hoàn thiện, phát triển thuyết quản lý theo khoa học. Qua đó, đã hạn chế tính cơ giới của tư tưởng “con người kinh tế”, đặt nhân tố con người lên trên nhân tố trang bị kỹ thuật, nhân bản hóa quan hệ quản lý, dân chủ hóa sản xuất, phát huy động lực vật chất và tinh thần với tính công bằng cao hơn và đề cao quan hệ hợp tác hòa hợp giữa người quản lý với công nhân. Đóng góp đáng kể vào quá trình đó có công lao của Henry L. Gantt (1861 - 1919) về hệ thống tiền thưởng; của ông bà Gilbreth về việc loại bỏ các động tác thừa và về cơ hội thăng tiến của người công nhân,…
Thuyết quản lý theo khoa học chủ yếu đề cập đến công việc quản lý ở cấp cơ sở (doanh nghiệp) với tầm vi mô. Tuy nhiên, nó đã đặt nền móng rất cơ bản cho lý thuyết quản lý nói chung, đặc biệt về phương pháp làm việc tối ưu (có hiệu quả cao), tạo động lực trực tiếp cho người lao động và việc phân cấp quản lý. Các thuyết quản lý và trường phái quản lý khác vừa kế thừa thành tựu đó, vừa nâng cao những nhân tố mới để đưa khoa học quản lý từng bước phát triển hoàn thiện hơn.
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn)