1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Bảo vật quốc  gia Việt Nam" do tác giả Nguyễn Lan Phương biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Bảo vật quốc  gia Việt Nam

Bảo vật quốc  gia Việt Nam

Tác giả Nguyễn Lan Phương biên soạn

Nhà xuất bản Dân trí

3. Tổng quan nội dung sách

Bảo vật quốc gia là diện mạo văn hóa của một đất nước, được lưu truyền lại có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. Một hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia phải đáp ứng được một trong các tiêu chí:

1. Là hiện vật gốc độc bản;

2. Là hiện vật có hình thức độc đáo;

3. Là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu; hoặc là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; hoặc là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định; hoặc là mẫu vật tự nhiên chứng minh cho các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự nhiên.

Luật Di sản Văn hoá (sửa đổi và bổ sung) quy định đối tượng có thể trở thành bảo vật quốc gia rất rộng. Đó có thể là hiện vật có giá trị đặc biệt liên quan đến một sự kiện trọng đại của đất nước, liên quan đến sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu; hoặc là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; hoặc là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất đị 

Tính đến nay, sau 6 đợt, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định công nhận Bảo vật quốc gia cho 142 hiện vật, nhóm hiện vật. Mỗi bảo vật quốc gia đều chứa đựng những nét đẹp đa dạng, phong phú và tinh hoa bản sắc dân tộc, lịch sử của nước nhà, là những di sản quý giá cần được bảo tồn, gìn giữ, phát huy. Những hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia mang lại những giá trị đặc biệt về văn hóa, lịch sử được Nhà nước Việt Nam bảo vệ và bảo quản theo chế độ riêng biệt.

Nhằm giới thiệu đến đông đảo quý bạn đọc những hiện vật hàm chứa nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, khoa học, tôn lên giá trị tinh thần, niềm tự hào về những di sản của tiền nhân để lại, tác giả Nguyễn Lan Phương biên soạn cuốn sách “Bảo vật quốc gia Việt Nam”. Do chưa có điều kiện để giới thiệu tất cả bảo vật quốc gia đã được Nhà nước công nhận trong 6 đợt vừa qua, chúng tôi chỉ lựa chọn giới thiệu đến quý bạn đọc một số bảo vật quốc gia trong tổng số hơn 140 hiện vật, nhóm hiện vật đó.

4. Đánh giá bạn đọc

Tác giả đã biên soạn trong cuốn sách giới thiệu tới bạn đọc hình ảnh và thông tin của một số bảo vật quốc gia đã được công nhận, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về văn hóa - lịch sử - khoa học của bạn đọc trên cả nước. 

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích về mặt văn hóa, lịch sử đối với bạn đọc.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Bảo vật quốc  gia Việt Nam".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây thông tin về một số bảo vật quốc gia đã được công bố để bạn đọc tham khảo:

1. Trống Hoàng Hạ: Chất liệu Đồng (Văn hóa Đông Sơn), cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm. Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012.

Phát hiện tại xóm Nội Thôn, làng Hoàng Hạ, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Sơn Bình (nay là Hà Nội). Trống đồng Hoàng Hạ là loại trống H1 điển hình, kiểu dáng, đề tài hoa văn trang trí độc đáo còn khá nguyên vẹn. Trống đồng Hoàng Hạ có kích thước lớn là một tiêu bản đặc biệt được xếp vào cùng nhóm trống đồng Ngọc Lũ, nhóm trống đặc trưng tiêu biểu nhất. Vì vậy trống đồng Hoàng Hạ xứng đáng được công nhận là Bảo vật Quốc gia.

2. Thạp Đào Thịnh (Đồng). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm. Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012.

Trong văn hóa Đông Sơn, thạp đồng là di vật tiêu biểu sau trống đồng và chủ yếu chỉ xuất hiện trong phạm vi phân bố của nền văn hóa này. Trong hàng trăm chiếc thạp đã phát hiện thì thạp Đào Thịnh là chiếc thạp có kích thước lớn nhất, hoa văn trang trí phong phú, chặt chẽ, tinh mỹ và độc đáo nhất.

Đặc biệt trên nắp thạp có gắn đối xứng tâm 4 khối tượng nam nữ đang giao hoan, loại tượng mới gặp duy nhất trong nghệ thuật Đông Sơn. Bộ phận sinh dục của người đàn ông được nhấn mạnh bằng cách phóng đại so với tỷ lệ cơ thể, phản ảnh tín ngưỡng phồn thực với khát vọng vạn vật sinh sôi nẩy nở của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Việc người nam đeo dao găm ngay cả trong lúc sinh hoạt tình dục cho thấy vũ khí luôn thường trực bên người, phản ảnh trong văn hóa Đông Sơn đã phát sinh xung đột xã hội dẫn tới chiến tranh, là tiền đề hình thành các thủ lĩnh quân sự, tạo nên một trong những cơ sở vật chất hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang – Âu Lạc.

3. Cây đèn hình người quỳ (Đồng). Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2000 – 2500 năm. Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012

Cây đèn thể hiện theo hình tượng một người đàn ông mình trần đóng khố tư thế đang quỳ, hai tay nâng đĩa đèn. Mình trần, thân dưới mặc khố. Tượng có khuôn mặt bầu, mắt mở to, miệng hơi mỉm cười, quanh môi có ria mép. Đầu tượng được gắn vương miện, tóc để chỏm. Hai vai và sau tượng gắn 3 cành chữ S, mỗi cành chữ S đỡ một đĩa đèn và gắn 1 hình người đang quỳ. Trên hai đùi và đằng sau người đàn ông có 4 nhạc công cũng ở tư thế quỳ, hai nhạc công đang thổi sáo. Cánh tay, cổ tay có đeo trang sức, tai đeo hoa hình khuyên to tròn. Trên vai và quanh bụng được trang trí những mô típ chuỗi hoa sen.

Cây đèn hình người quỳ là một hiện vật độc bản, đại diện cho nghệ thuật cổ tiêu biểu, độc đáo vào thời kỳ cuối văn hóa Đông Sơn, có sự giao lưu với văn hóa Hán. Cây đèn thể hiện kỹ thuật đúc tài khéo và phản ánh thảm mỹ cảm quan về vũ trụ của cư dân cổ giai đoạn này. Chính vì vậy, cây đèn hình người quỳ xứng đáng đề cử xem xét xếp vào danh mục Bảo vật Quốc gia.

4. Ấn “Sắc mệnh chi bảo” (Vàng). Thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 8, 1827. Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2015

Ấn có núm hình rồng cuốn. Lưng ấn khắc 2 dòng chữ Hán: Thập tuế hoàng kim, trọng nhị bách nhị thập tam lượng lục tiền. (Vàng 10 tuổi, nặng 223 lạng 6 tiền - khoảng 8,3kg) và Minh Mệnh bát niên thập nguyệt cát nhật tạo. (Đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mệnh 8, 1827). Mặt ấn đúc nổi 4 chữ triện Sắc mệnh chi bảo.

Ấn được dùng để ban cấp cáo sắc cho văn võ cùng phong tặng thần và người. Là hiện vật độc bản, biểu trưng cho quyền lực nhà Nguyễn, có giá trị đặc biệt trong sưu tập kim bảo triều Nguyễn hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

5. Trống Cảnh Thịnh (Đồng). Thời Tây sơn, niên hiệu Cảnh Thịnh, 1800 Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012.

Trống đồng Cảnh Thịnh là hiện vật độc bản trong phức hợp trống đồng Việt Nam. Tạo hình trống thể hiện sự độc đáo khi mô phỏng theo kiểu trống da truyền thống. Hoa văn trang trí chính đúc nổi đề tài Tứ linh mang ý nghĩa biểu trưng cho đất nước thái bình thịnh trị, xã hội an lạc và Long Mã cõng Hà đồ, Thần Quy chở Lạc thư, hai biểu tượng khởi nguyên của Kinh Dịch – tư tưởng triết học của người Á Đông về quy luật của sự biến đổi.

Một giá trị đặc biệt khác của trống đồng Cảnh Thịnh chính là phần tư liệu. Các dòng lạc khoản khắc trên thân cho biết trống được đúc vào tháng 4 nhuận năm Cảnh Thịnh thứ 8 thời Tây Sơn (1800) tại Chùa Cả (Linh Ứng tự), tức Chùa Nành, xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội ngày nay. Đặc biệt, một bài minh dài 222 chữ dẫn thuyết lý do, mục đích đúc trống nói về người trong xã là bà Nguyễn Thị Lộc, vợ của Tổng Thái giám Giao quận công vào năm Vĩnh Hựu thứ 2 đời vua Lê Ý Tông (1736) đã tập phúc góp công dựng chùa Linh Ứng. Ghi nhớ công lao của bà, nhân dân trong xã đã cùng nhau đóng góp công sức, tiền của để đúc trống và những đồ thờ khác dâng lên ban Phật để lưu truyền, nhắc nhở con cháu đời sau luôn ghi nhớ công đức của tiền nhân.

6. Bình vẽ thiên nga (Gốm hoa lam). Thời Lê sơ, thế kỷ 15 Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2012

Là chiếc bình có kích thước lớn nhất, nguyên vẹn nhất trong sưu tập hiện vật độc bản khai quật từ tàu đắm Cù Lao Chàm, thành phố Hội An. Bình có dáng cao, vai phình, thân thuôn nhỏ về đáy tạo nên sự thon thả, thanh thoát. Hoa văn trang trí chia thành 7 băng phủ kín thân từ miệng xuống đáy. Băng hoa văn chủ đạo chiếm không gian lớn nhất ở giữa thân bình vẽ phong cảnh với 4 con thiên nga theo tích “Phi, Minh, Túc, Thực”: một con đang dang cánh bay, một con đang nghển cổ kêu, một con đang rúc đầu vào cánh ngủ và con còn lại đang kiếm ăn. Đây là cách chơi chữ và mượn hình biểu ý của người xưa nhằm gửi gắm ước nguyện được thăng tiến, tiền đồ sáng lạn, giàu có, no đủ.

Thời Lê sơ là giai đoạn phát triển huy hoàng của nghệ thuật gốm sứ cổ Việt Nam. Đồ gốm thời kỳ này không những phong phú về dòng men, đa dạng về loại hình, kiểu dáng mà hoa văn trang trí cũng rất sinh động. Sản phẩm gốm đương thời đã khẳng định được uy tín và tham gia mạnh mẽ vào giao lưu thương mại quốc tế.

7. Ấn vàng “Đại Việt quốc Nguyễn Chúa vĩnh trấn chi bảo” thời Lê Trung Hưng niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709) cạnh 10,84cm x10,84cm; dày 1,1cm, cao 6,3cm. Ấn hình vương, núm tạo hình sư tử hí cầu, rìa trái lưng ấn khắc dòng chữ Hán “Kế bát thập kim, lục hốt tứ lạng, tứ tiền tam phân” (dịch ra là: Cộng vàng tám tuổi, nặng 6 thoi, 4 lạng, 4 tiền, 3 phân).

8. Chuông chùa Vân Bản (Đồng). Thời Trần, thế kỷ 13 – 14 Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia Việt Nam năm 2013

Là chiếc chuông cổ nhất đồng thời có kích thước lớn nhất, uy nghi nhất của nền văn minh Đại Việt. Quai chuông gắn Bồ Lao hình rồng 2 đầu. Thân chuông chia thành 8 ô ngăn các bởi các đường gờ nổi. Miệng chuông đúc nổi băng cánh sen kép. Chuông có 6 núm gõ hình hoa sen nở mãn khai.

Trên thân chuông khắc minh văn chữ Hán nói về những người có công khai phá sơn lâm, mở mang đất đai lập dựng chùa Vân Bản là nhà sư tu khổ hạnh và Cư sĩ Đại Ố; những người cúng dường đất cho chùa là Thị vệ nhân dũng thủ Nguyễn Văn Kịp và vợ Chu Thị Trãi cùng anh vợ là Chu Lâm. Đặc biệt, minh văn cho biết lai lịch chuông do vị quan Tả bộc xạ cúng tiến vào chùa. Minh văn còn là lời dặn gửi đời sau phát tâm công đức giữ gìn chùa, không để bị hủy hoại, không được khuyết thiếu việc hương hỏa. Hoa lợi từ ruộng đất cúng dường thì dành cho cúng lễ, giỗ chạp.

Chuông là nguồn tài liệu quý để nghiên cứu lịch sử, văn hóa Phật giáo Việt Nam nói chung, thời Trần nói riêng.