1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách chuyên khảo "Quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam hiện nay" do TS. Trương Quốc Việt và TS. Lý Thị Huệ đồng chủ biên.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: TS. Trương Quốc Việt và TS. Lý Thị Huệ
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật
3. Tổng quan nội dung sách
Xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ là vấn đề được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm vì nó tiềm ẩn nguy cơ lớn dẫn đến tham nhũng trong đó có Việt Nam. Cuốn sách chuyên khảo Quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam hiện nay do TS. Trương Quốc Việt và TS. Lý Thị Huệ đồng chủ biên, là một công trình nghiên cứu hệ thống về quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam hiện nay trong điều kiện xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ diễn biến khá phức tạp, khi một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức đã lạm dụng quyền hạn, chức năng của mình trong thực thi công vụ để tư lợi.
Nội dung cuốn sách gồm 3 chương như sau:
Chương I. Cơ sở lý luận về xung đột lợi ích và quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ
Ở Chương I, các tác giả đã tập trung làm rõ các khái niệm cơ bản về xung đột lợi ích, xung đột lợi ích trong thực thi công vụ, đặc biệt là vấn đề quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ của một số quốc gia trên thế giới (như Anh, Hoa Kỳ, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Xinh-ga-po, In-đô-nê-xi-a…). Từ kinh nghiệm thực tiễn này, có thể nhận diện và quản lý các nguy cơ xung đột lợi ích một cách khách quan cho Việt Nam, nhất là trong kiểm soát các nguy cơ xung đột lợi ích, cụ thể là:
(1) Xác định những nguyên tắc nền tảng để xây dựng cơ chế và phương tiện quản lý xung đột lợi ích (bao gồm: bảo vệ lợi ích công, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình; thúc đẩy trách nhiệm và cam kết cá nhân; xây dựng văn hóa tổ chức).
(2) Những định hướng giải pháp để hoàn thiện hệ thống thể chế về quản lý xung đột lợi ích gồm: xác định những lĩnh vực tiềm ẩn xung đột lợi ích; xây dựng chiến lược và hành động phản ứng phù hợp; giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của các nhà quản lý và đội ngũ nhân viên công vụ; lãnh đạo nêu gương; truyền thông với các đối tác; thực thi chính sách và điều chỉnh chính sách.
Chương II. Thực trạng xung đột lợi ích và quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam hiện nay
Trong Chương này, nhóm tác giả đã phân tích quá trình phát triển chính sách, pháp luật về quản lý xung đội lợi ích trong thực thi công vụ giai đoạn 1945 – 1998; giai đoạn 1998 – 2005 và giai đoạn từ năm 2005 đến nay. Bên cạnh nêu các vấn đề về thực trạng cũng có những đánh giá về kết quả, hạn chế và nguyên nhân của quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam. Trong đó, nhấn mạnh các biểu hiện xung đột lợi ích (nhiều nhất liên quan tới hoạt động đấu thầu, công tác tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức, việc làm thêm của cán bộ, công chức…) mà biểu hiện cụ thể của xung đột lợi ích đó là tặng/nhận quà, ưu ái người thân và sử dụng thông tin sai mục đích để tư lợi…
Chương III. Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam hiện nay
Từ thực tế được nêu ở Chương II, các giải pháp được các tác giả đưa ra để nhằm phòng ngừa tham nhũng, xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại, khách quan, minh bạch, phục vụ nhân dân, đó là:
(1) Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức về xung đột lợi ích và quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ;
(2) Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ;
(3) Hoàn thiện chính sách, pháp luật về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ;
(4) Xây dựng và thực hiện văn hóa công vụ, đề cao giá trị liêm chính, khách quan, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân;
(5) Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức và bảo đảm các điều kiện để cán bộ, công chức toàn tâm toàn ý thực thi công vụ khách quan, minh bạch, liêm chính;
(6) Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ;
(7) Ứng dụng khoa học – công nghệ nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích trong thực thi công vụ;
(8) Tăng cường hợp tác quốc tế về quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ.
Cuốn sách “Quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam hiện nay” đã cung cấp những luận chứng và luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cho các cơ quan có thẩm quyền nhằm cụ thể hóa quan điểm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng; xây dựng nền hệ thống hành chính tinh gọn, trong sạch, hiện đại ở nước ta.
4. Đánh giá bạn đọc
Cuốn sách không chỉ có giá trị về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn trong công tác xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới.
Đây thực sự là tài liệu tham khảo cho thực tiễn hoạt động thực thi công vụ hiện nay ở Việt Nam, phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy môn học liên quan đến khoa học chính trị, ngành xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, ngành quản lý công, quản lý nhà nước.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách "Quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ ở Việt Nam hiện nay".
Dưới đây, Luật Minh Khuê trích dẫn nội dung luận giải về khái niệm "Quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ" để bạn đọc tham khảo:
Ở Việt Nam, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 lần đầu tiên quy định và giải thích thuật ngữ “xung đột lợi ích”, theo đó, khoản 8 Điều 3 nêu rõ “Xung đột lợi ích là tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ”.
Cách tiếp cận về xung đột lợi ích trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 là từ góc độ hẹp. Chủ thể trong các tình huống xung đột lợi ích này chỉ là cá nhân, người có chức vụ, quyền hạn. Vì vậy, có thể hiểu: Xung đột lợi ích trong thực thi công vụ là tình huống phát sinh khi cán bộ, công chức bị chi phối, tác động bởi lợi ích cá nhân hoặc lợi ích của người thân thích của họ. Dẫn đến việc CBCC có thể làm không đúng chức trách nhiệm vụ, quyền hạn, bổn phận và nghĩa vụ được giao gây tổn hại tới lợi ích công, giá trị công để tư lợi.
Theo đó, cấu thành của xung đột lợi ích bao gồm: lợi ích riêng, trách nhiệm được ủy thác và việc thi hành trách nhiệm đó. Xung đột lợi ích phát sinh là do mâu thuẫn mang tính đối kháng giữa hai yếu tố: lợi ích riêng và trách nhiệm được ủy thác. Mỗi một xung đột lợi ích đều mang đến cho cá nhân/nhóm người/xã hội hai ý nghĩa, đó là tính tích cực và tính tiêu cực. Khi tìm được “tiếng nói chung” hay tìm ra cách giải quyết hợp lý giữa lợi ích riêng (lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần hay một dạng lợi ích khác như vị trí lãnh đạo, cơ hội thăng tiến trong công việc…) và trách nhiệm được ủy thác thì xung đột lợi ích đó có tính tích cực, bởi nó mang tính xây dựng, phản biện; có tính thống nhất; có sự cân nhắc đa chiều và nâng cao khả năng thực thi công việc, nhất là trong vai trò người lãnh đạo. Ngược lại, khi xung đột lợi ích tiềm tàng “cán bộ, công chức ở tình huống có thể bị tác động bởi lợi ích riêng tư của mình khi thực thi công vụ” và xung đột lợi ích hiện hữu “Cán bộ, công chức ở tình huống bị tác động bởi lợi ích riêng tư của họ khi thực thi công vụ”.
Trong mỗi trường hợp, nếu không được quản lý phù hợp, xung đột lợi ích có thể làm ảnh hưởng tới tính liêm chính và hiệu quả của khu vực công và làm suy giảm niềm tin của xã hội. Chính vì thế, OECD cho rằng, phòng ngừa xung đột lợi ích là một phần của chính sách phòng, chống tham nhũng, bởi vì quản lý xung đột lợi ích là một công cụ để tạo dựng khu vực công liêm chính – nền tảng để phòng ngừa tham nhũng hiệu quả.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý thông qua việc sử dụng các công cụ, phương pháp phù hợp lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định trước. Trong tổ chức, do sự khác biệt về nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân, tổ chức; sự đa dạng về nhận thức, động cơ, mục đích của các bên liên quan, nên trong quá trình phối hợp, xử lý công việc, các mâu thuẫn, xung đột trong tổ chức là khó tránh khỏi. XUng đột lợi ích xảy ra có thể đem đến hệ quả tích cực hoặc tiêu cực. Nếu tìm được “tiếng nói chung” hay tìm ra cách giải quyết hợp lý giữa lợi ích cá nhân và trách nhiệm được phân công thì xung đột lợi ích đó mang tính tích cực, là động lực của sự phát triển. Ngược lại, khi có sự lợi dụng quyền lực nhằm phục vụ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hoặc đặt lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm lên trên lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia, khi đó sẽ xuất hiện xung đột lợi ích tiêu cực.
Quản lý xung đột lợi ích là tổng thể các biện pháp để phòng ngừa, phát hiện, xử lý và ngăn ngừa ảnh hưởng tiêu cực của nó tới sự phát triển tổ chức. Quản lý xung đột lợi ích liên quan đến việc làm giảm hay loại trừ mọi nguyên nhân xung đột ảnh hưởng xấu tới mục tiêu, giá trị cốt lõi của tổ chức. Khi tìm được cách giải quyết hợp lý giữa lợi ích riêng (lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần hay một dạng lợi ích khác, như: vị trí lãnh đạo, cơ hội thăng tiến trong công việc…) và trách nhiệm, bổn phận được giao thì xung đột lợi ích đó có tính tích cực, bởi nó mang tính xây dựng, phản biện; có tính thống nhất; có sự cân nhắc đa chiều và nâng cao khả năng thực thi công việc, nhất là trong vai trò người lãnh đạo. Ngược lại, khi có sự đối lập giữa hai yếu tố đó, cộng với việc chúng ta không có một cơ chế đủ mạnh về mặt pháp luật hoặc đạo đức để ngăn ngừa thì nguy cơ việc lợi dụng quyền lực, hiện tượng kéo bè, kết cánh của một cá nhân, một nhóm người nhằm phục vụ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hoặc đặt lợi ích cá nhân hay lợi ích nhóm lên trên lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia lúc này sẽ xuất hiện xung đột lợi ích. Xung đột lợi ích này chính là nguyên nhân dẫn đến hành vi tham nhũng trong xã hội.
Từ sự phân tích trên có thể hiểu: Quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ là hoạt động có tổ chức, có định hướng của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền và các bên liên quan bằng những công cụ, phương tiện khác nhau tác động tới người thực thi công vụ nhằm nhận diện, phòng ngừa, phát hiện, xử lý các xung đột lợi ích để bảo đảm tính khách quan, liêm chính, công minh trong hoạt động công vụ.