1. Giới thiệu về tác giả

Cuốn sách "Pháp Luật Quốc tế và Việt Nam về chuyển giao người bị kết án phạt tù với vấn đề bảo đảm quyền con người" do TS. Ngô Hữu Phước - ThS Lê Đức Phương ( Đại Học Luật TP. HCM) biên soạn. Sách được xuất bản với sự tài trợ của Đại Sứ Quán Đan Mạch Tại Việt Nam.

2. Giới thiệu về hình ảnh sách

Sách Pháp Luật Quốc tế và Việt Nam về chuyển giao người bị kết án phạt tù với vấn đề bảo đảm quyền con người

Pháp Luật Quốc tế và Việt Nam về chuyển giao người bị kết án phạt tù với vấn đề bảo đảm quyền con người

TS. Ngô Hữu Phước - ThS Lê Đức Phương ( Đại Học Luật TP. HCM)

Nhà xuất bản Hồng Đức

3. Tổng quan nội dung sách

Chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù nói chung là việc một quốc gia thực hiện chuyển giao người nước ngoài phạm tội đã bị toà án của quốc gia đó kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật về nước mà người bị kết án là công dân hoặc một nước khác đồng ý tiếp nhận để tiếp tục thi hành bản án. Luật Tương trợ tư pháp ra đời và có hiệu lực 01/7/2008 với một chương riêng (chương V) từ Điều 49 đến Điều 60 chứa đựng các quy định về căn cứ, điều kiện, trình tự, thủ tục, chi phí trong chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù trở thành văn bản pháp lý đầu tiên tạo cơ sở cho việc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài.

Nhằm phục vụ bạn đọc tìm hiểu chuyên sâu về vấn đề chuyển giao người bị kết án phạt tù, các tác giả TS. Ngô Hữu Phước và ThS. Lê Đức Phương đã biên soạn cuốn sách: "Pháp Luật Quốc tế và Việt Nam về chuyển giao người bị kết án phạt tù với vấn đề bảo đảm quyền con người".

Cuốn sách được biên soạn với 3 phần nội dung chính như sau:

Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về chuyển giao người bị kết án phạt tù

Chương 2. Chuyển giao người bị kết án phạt tù theo các điều ước quốc tế

Chương 3. Chuyển giao người bị kết án phạt tù theo pháp luật Việt Nam

Lợi ích của việc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù mang lại lợi ích cho cả ba bên: nước chuyển giao, nước nhận chuyển giao và người bị kết án. Trước hết, đối với người bị kết án phạt tù, họ phải chịu hình phạt với rào cản về ngôn ngữ và văn hoá, điều đó sẽ có thể làm giảm khả năng cải tạo của họ. Việc chuyển giao sẽ tạo các lợi ích về vật chất và tinh thần như môi trường xã hội, điều kiện sống, điều kiện thăm nom, động viên của người thân và bạn bè,… làm cho họ tích cực cải tạo, sửa chữa sai lầm. Việc chuyển giao người bị kết án về quê hương của họ cũng làm giảm gánh nặng về tài chính và tình cảm cho gia đình và giảm nhu cầu cần sự trợ giúp lãnh sự đối với công dân bị kết án ở nước ngoài. Nâng cao cơ hội cải tạo cho người được chuyển giao thông qua việc tiếp cận với chương trình giáo dục, làm việc và cải tạo cũng như sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng. Đối với nước chuyển giao, việc chuyển giao làm giảm các chi phí nhà nước đó bỏ ra trong quá trình giam giữ, cải tạo người đó. Đối với nước nhận chuyển giao, việc chuyển giao cho phép nước nhận sẽ giám sát họ khi được tha và dần dần giúp tù nhân tái hoà nhập cộng đồng. Thực chất, việc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù không phải là giải pháp khoan dung hơn cho người bị kết án. Mục đích của nó là thi hành hình phạt ở nước bị kết án trong môi trường cải tạo tốt hơn.

Căn cứ chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Điều 49, khoản 2 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 quy định: “Việc chuyển giao được thực hiện căn cứ vào điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên khi có yêu cầu của người đang chấp hành hình phạt tù hoặc yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao hoặc nước tiếp nhận; trường hợp chưa có điều ước quốc tế liên quan đến việc chuyển giao thì việc chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù được thực hiện theo thoả thuận trực tiếp giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước liên quan trên cơ sở quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế”.

Từ quy định trên có thể thấy có thể dựa trên hai căn cứ để thực hiện việc chuyển giao là (1) điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc (2) thoả thuận trực tiếp giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước liên quan (trường hợp chưa có điều ước quốc tế liên quan đến việc chuyển giao) nhưng phải tuân theo các quy định Luật Tương trợ tư pháp và các quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.

Hiện nay, Việt Nam đã ký Hiệp định về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù với Hungari năm 1985 (chương III); Cộng hoà Ba Lan năm 1993 (chương IV); Australia, Anh, Thái Lan, Hàn Quốc, Camphuchia. Chủ thể có thể đưa ra yêu cầu chuyển giao là: (1) Người đang chấp hành hình phạt tù, (2) Cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao (nước nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù), (3)Cơ quan có thẩm quyền của nước nhận chuyển giao.

Dưới đây là trích dẫn quy định tại Luật tương trợ tư pháp 2007 về biện pháp chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù để bạn đọc tham khảo:

Điều 50. Điều kiện tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

1. Người đang chấp hành hình phạt tù ở nước ngoài có thể được tiếp nhận về Việt Nam để thi hành hình phạt tù khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là công dân Việt Nam;

b) Có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam;

c) Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước ngoài cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam;

d) Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành hình phạt tù phải còn ít nhất là một năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này còn ít nhất là sáu tháng;

đ) Bản án đối với người được chuyển giao đã có hiệu lực pháp luật và không còn thủ tục tố tụng nào đối với người đó tại nước chuyển giao;

e) Có sự đồng ý của nước chuyển giao;

g) Có sự đồng ý của người được chuyển giao.

2. Người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam có thể được chuyển giao cho nước ngoài để thi hành hình phạt tù khi có các điều kiện sau đây:

a) Là công dân của nước tiếp nhận hoặc là người được phép cư trú không thời hạn hoặc có người thân thích tại nước tiếp nhận chuyển giao;

b) Có đủ các điều kiện quy định tại các điểm c, d, đ, e, g khoản 1 Điều này và đã thực hiện xong phần trách nhiệm dân sự, hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản và các trách nhiệm pháp lý khác trong bản án;

c) Có sự đồng ý của nước tiếp nhận chuyển giao.

Điều 51. Từ chối chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù

Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam từ chối chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Khi có căn cứ cho rằng người được chuyển giao có thể bị tra tấn, trả thù hoặc truy bức tại nước tiếp nhận chuyển giao;

2. Việc chuyển giao có thể phương hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia của Việt Nam.

Điều 53. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù và tài liệu kèm theo

1. Văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù phải có các nội dung sau đây:

a) Ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản;

b) Lý do yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù;

c) Tên, địa chỉ của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù;

d) Tên, địa chỉ của cơ quan được yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù;

đ) Họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, nơi thường trú cuối cùng, các căn cứ pháp lý về việc người được yêu cầu chuyển giao đủ tư cách pháp lý để chuyển giao và các thông tin cần thiết khác về người được yêu cầu chuyển giao.

2. Kèm theo văn bản yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù phải có các thông tin, tài liệu sau đây:

a) Tài liệu để chứng minh người được yêu cầu chuyển giao đã có đầy đủ điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật này;

b) Văn bản nêu tóm tắt nội dung của vụ án, bản sao bản án, quyết định của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù được yêu cầu chuyển giao;

c) Điều luật áp dụng để xác định các yếu tố cấu thành tội phạm và tội danh, quy định về hình phạt, thời hiệu thi hành hình phạt đối với tội phạm đó của bản án;

d) Tài liệu mô tả đặc điểm nhận dạng và ảnh của người được yêu cầu chuyển giao theo pháp luật và tập quán quốc tế;

đ) Văn bản, tài liệu xác nhận thời gian người được yêu cầu chuyển giao đã chấp hành hình phạt tù tại nước yêu cầu chuyển giao và thời gian còn lại phải chấp hành hình phạt tù tại nước tiếp nhận;

e) Tài liệu liên quan đến tình hình sức khoẻ, trạng thái tâm thần, hồ sơ bệnh án của người được yêu cầu chuyển giao, nếu có;

g) Điều ước quốc tế giữa nước được yêu cầu chuyển giao và nước tiếp nhận.

4. Đánh giá bạn đọc

Các vấn đề pháp lý về chuyển giao người bị kết án phạt tù nói riêng, các biện pháp tương trợ tư pháp nói chung vẫn còn khá xa lạ với bạn đọc Việt Nam. Nội dung tác giả chia sẻ trong cuốn sách cung cấp tới bạn đọc toàn diện từ vấn đề lý luận (khái niệm, đặc điểm, lịch sử) của chuyển giao người bị kết án phạt tù, điều ước quốc tế về chuyển giao người bị kết án phạt tù và cuối cùng soi chiếu vào các quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giao người bị kết án phạt tù. Cuốn sách sẽ giúp bạn đọc có nguồn tư liệu đa chiều hơn để nghiên cứu, tìm hiểu phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và công tác.

5. Kết luận

Cuốn sách "Pháp Luật Quốc tế và Việt Nam về chuyển giao người bị kết án phạt tù với vấn đề bảo đảm quyền con người" do TS. Ngô Hữu Phước - ThS Lê Đức Phương biên soạn không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học pháp lý mà còn có giá trị thực tiễn đối với bạn đọc.

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách Pháp Luật Quốc tế và Việt Nam về chuyển giao người bị kết án phạt tù với vấn đề bảo đảm quyền con người".