1. Sinh con thứ ba có bị phạt, kỷ luật không ?

Thưa luật sư, tôi muốn hỏi: Anh chị tôi đều là đảng viên. Anh là trưởng phòng, chị hiện là cán bộ bình thường. Anh chị có một con gái 7 tuổi bị di chứng bại não nhẹ do sinh non tháng, sốt lúc một tháng tuổi.

Cháu vẫn tập vật lý trị liệu liên tục cho đến nay. Hiện cháu học lớp hai viết tay trái vận động khó khăn (đi lại và sinh hoạt hàng ngày) vì yếu nửa người bên phải nhưng nhận thức bình thường, có chậm hơn các bạn cùng lứa một chút nhưng không nhiều. Bao năm qua anh chị không dám sinh ngay vì bận lo phục hồi sức khỏe cho cháu từ Nam chí Bắc (Nhi đồng TP. HCM, Nhi Trung ương). Hiện anh chị vừa sinh thêm một cháu gái. May mắn cháu này khỏe mạnh bình thường. Nay nhà nước có quy định cho phép sinh con thứ ba. Gia đình ai cũng động viên nên sinh thêm cháu nữa vì nhà neo người sinh thêm em để cháu lớn có thêm người giúp đỡ về sau. Anh chị tôi ngại đảng viên không được sinh. Anh chị hiện còn trẻ, được đào tạo chính quy.

Cả hai đều công tác ở tỉnh, là cán bộ có uy tín được cơ cấu tại hai cơ quan công tác. Xin hỏi trường hợp anh chị tôi được sinh con thứ ba không? Nếu có phải làm thủ tục gì, có phải đưa cháu giám định ở Trung tâm giám định y khoa tỉnh không? Khi nào Bộ y tế có danh mục dị tật, bệnh hiểm nghèo?

Gia đình tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

>> Xem thêm:  Hành vi gây ô nhiễm môi trường bị xử phạt như thế nào ?

 

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Nghị định 20/2010/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số thì:

“Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật hoặc mắc bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận.”

Do đó, nếu con của anh chị của bạn mắc bệnh hiểm nghèo thì phải có sự xác nhận của Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp trung ương.

Về trình tự thủ tục, cũng như danh mục dị tật, bệnh hiểm nghèo hiện nay được Bộ Y tế hướng dẫn tại Thông tư 03/2014/TT-BYT về Danh mục dị tật, bệnh hiểm nghèo không mang tính di truyền để xác định cặp vợ chồng sinh con thứ ba không vi phạm quy định sinh một hoặc hai con do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành. Tham khảo bài viết liên quan: Xử lý kỷ luật công chức vi phạm sinh con thứ 3 có bị buộc thôi việc không?

 

2. Có xin được vào nhà nước khi mà sinh con thứ ba ?

>> Xem thêm:  Năm 2022, Viên chức, Đảng viên, giáo viên sinh con thứ ba xử lý như thế nào ?

Thưa luật sư, Tôi năm nay 35 tuổi hiện làm doanh nghiệp tư nhân, trong thời gian tới tôi muốn xin vào cơ quan nhà nước (công chức, viên chức) và tôi cũng muốn sinh thêm 1 cháu nữa là con thứ 3.

Trong trường hợp như vậy liệu tôi có xin được vào cơ quan nhà nước không ạ?

Xin cảm ơn!

 

Trả lời:

Theo những phân tích ở trên về vấn đề sinh con thứ 3 thì hiện tại bây giờ pháp luật không có quy định chế tài xử phạt.

Điều 36 Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định về điều kiện đăng ký dự tuyển công chức thì:

- Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức:

+ Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;

+ Đủ 18 tuổi trở lên;

>> Xem thêm:  Đăng hình người khác, đăng video lên mạng xã hội facebook thì bị xử phạt thế nào ? Phạm tội gì ?

+ Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;

+ Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;

+ Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;

+ Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;

+ Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển.

- Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển công chức:

+ Không cư trú tại Việt Nam;

+ Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

+ Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục."

Ngoài ra, Điều 4 Nghị định 138/2020/NĐ-CP quy định về điều kiện đăng ký dự tuyển công chức như sau: Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức. Cơ quan sử dụng công chức xác định các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển quy định tại điểm g khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức, báo cáo cơ quan quản lý công chức phê duyệt trước khi tuyển dụng.

>> Xem thêm:  Đi sai làn đường bị xử phạt như thế nào theo luật giao thông ?

Điều 22 Luật Viên chức 2010 quy định về điều kiện đăng ký dự tuyển viên chức:

- Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức:

+ Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam;

+ Từ đủ 18 tuổi trở lên. Đối với một số lĩnh vực hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, tuổi dự tuyển có thể thấp hơn theo quy định của pháp luật; đồng thời, phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật;

+ Có đơn đăng ký dự tuyển;

+ Có lý lịch rõ ràng;

+ Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm;

+ Đủ sức khoẻ để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ;

+ Đáp ứng các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí việc làm do đơn vị sự nghiệp công lập xác định nhưng không được trái với quy định của pháp luật.

- Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển viên chức:

>> Xem thêm:  Đánh người vô cớ phạm vào tội gì và bị xử phạt như thế nào ? làm sao để kiện hành vu chửi bới, đe dọa đánh người

+ Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

+ Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng."

Do đó, nếu bạn đáp ứng những điều kiện trên thì bạn vẫn sẽ đăng ký dự tuyển vào cơ quan nhà nước như bình thường.\ Xem thêm:Viên chức sinh con thứ 3 thì đơn vị có bị ảnh hưởng không ?

 

4. Hình thức kỷ luật Công chức trong thời gian tập sự sinh con thứ ba ?

Chào luật sư! Luật sư cho tôi hỏi: Tôi là một kỹ sư tin học, chưa là Đảng viên. Trước khi là công chức nhà nước tôi có sinh con thứ 3 (Sinh con thứ 3 trước khi tuyển dụng vào công chức nhà nước).

Vậy tôi có bị Cơ quan nơi tôi đang công tác xử lý kỷ luật không? Nếu bị xử lý thì ở mức độ nào?

Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính còn bị xử phạt nữa không ?

 

Trả lời:

Trước đây, khi thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình nhà nước có chủ trương cấm sinh con thứ 3 đối với công nhân, viên chức. Nếu sinh con thứ 3 thì sẽ chịu xử phạt hành chính phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép, tước chứng chỉ hành nghề, cấm đảm nhiệm chức vụ, hay bị khiển trách kỷ luật của cơ quan nơi người đó đang đảm nhiệm chức vụ, đang công tác.

Tuy nhiên, khi Nghị định 117/2020/NĐ-CP, thay thế Nghị định 176/2013/NĐ-CP (đã hết hiệu lực thi hành) về xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em đã không đề cập gì đến việc “xử lý việc sinh con thứ ba” nữa.

Đây là một chính sách mở để đối phó với tình trạng già đi của dân số của Việt Nam trong tương lai. Do đó, những quy định xử lý việc sinh con thứ 3 cũng sẽ phải thay đổi đảm bảo tính thống nhất của pháp luật.

Điều này có nghĩa là pháp luật hiện tại không cấm việc sinh con thứ 3 đối với cán bộ, công chức, viên chức. Pháp luật hiện hành để mở chế độ sinh con thứ ba, nên cơ quan nơi người sinh con thứ ba không được viện cớ để xử lý đối với nhân viên cơ quan mình sinh con thứ 3.

Tuy nhiên, hình thức xử lý cụ thể cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức vi phạm được thực hiện theo quy định trong nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị đó đề ra nên cần tham khảo nội quy tại cơ quan người sinh con thứ ba đang làm việc. Vì vậy, bạn cần xem lại nội quy của cơ quan mình xem có quy định về vấn đề xử phạt viên chức sinh con thứ 3 hay không.. Tham khảo ngay:Quy định của pháp luật về vấn đề sinh con thứ 3 đối với công chức, viên chức?

 

4. Sinh con thứ ba bị xử lý kỷ luật có đúng không ?

Thưa luật sư, Tôi có một sự việc sau xin được tư vấn. Tôi đã kết hôn một lần và có 1 con chung với chồng cũ. Năm 2014, tôi đã ly hôn và bản án có hiệu lực pháp luật rồi. Năm 2015 tôi có đứa con trai (con ngoài giá thú). Tôi là giáo viên mầm non. Và khi biết tôi có bầu lần thứ 2, phía cơ quan đã nhiều lần gây sức ép và doạ đuổi việc nếu không phá thai. Tuy nhiên, tôi vẫn quyết tâm sinh con theo nguyện vọng. Hiện nay, tôi đã có quyết định kỷ luật của Ủy ban nhân dân cấp huyện với hình thức khiển trách, không được đề cử, ứng cử vào các chức vụ trong thời hạn 5 năm. Từ trước đến nay tôi chỉ nghe nói đến việc kỷ luật do sinh con thứ ba mà chưa nghe nói việc sinh con thứ hai lại vi phạm kỷ luật.

Kính mong quý luật sư cho biết cụ thể việc xử lý đối với tôi đúng hay sai ?

Trân trọng cảm ơn!

 

Trả lời:

Nghị định 117/2020/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế ra đời, đã không đề cập gì đến việc “xử lý việc sinh con thứ ba” nữa. Điều này có nghĩa là pháp luật hiện tại không cấm việc sinh con thứ 3 đối với cán bộ, công chức, viên chức.

Tuy nhiên, hình thức xử lý cụ thể cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức vi phạm được thực hiện theo quy định trong nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn vị đó đề ra nên cần tham khảo nội quy tại cơ quan người sinh con thứ ba đang làm việc. Vì vậy, để biết được hình thức xử lý kỷ luật của cơ quan dành cho bạn là đúng hay sai bạn cần xem lại nội quy của cơ quan mình xem có quy định về vấn đề xử phạt viên chức sinh con thứ 3 hay không. Xem thêm:Ly hôn khi là đảng viên dự bị? Sinh con thứ ba có còn bị kỷ luật theo quy định mới?

>> Xem thêm:  Năm 2022, sinh con thứ ba có bị xử phạt hoặc bị kỷ luật không ?

>> Xem thêm:  Hành vi trộm cắp (ăn trộm) bị xử phạt như thế nào? Phân biệt tội trộm cắp và tội cướp tài sản?

 

5. Có được sa thải lao động vì lý do sinh con không ?

Thưa luật sư, Chị A là công nhân đang làm việc tại một Công ty may xuất khẩu từ ngày 01/03/2012 theo chế độ hợp đồng lao động thời hạn 3 năm. Tháng 08/2014, chị A nghỉ sinh con 06 tháng theo quy định. Đầu tháng 02/2015, chị A trở lại làm việc sau thời gian nghỉ sinh, ngày 15/02/2015 chị được Giám đốc Công ty thông báo Công ty sẽ ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động vào ngày 01/03/2015 và giải quyết các quyền lợi đối với chị theo quy định của pháp luật. Chị A cho rằng việc Giám đốc thông báo và quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động đối với chị trong thời gian chị đang nuôi con nhỏ, đã vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ Luật Lao động.

Theo Bộ Luật Lao động hiện hành, thông báo của Giám đốc đúng hay sai?

 

Trả lời:

Điều 37 Bộ luật lao động năm 2019 có quy định về các trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đó là:

>> Xem thêm:  Khai sai hồ sơ hải quan bị xử phạt như thế nào?

1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Theo đó, khoản 3 Điều 137 có quy định:

"3. Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết hoặc người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

Trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới."

Do đó, thông báo chấm dứt HĐLĐ của Giám đốc công ty với chị A là trái pháp luật. Bài viết tham khảo thêm:Đảng viên vi phạm sinh con thứ 3 bị xử lý như thế nào?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Hành vi ghi, tham gia chơi lô đề bị xử phạt như thế nào ?

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê