1. Thế nào là sổ hồng, sổ đỏ?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 97 Luật Đất đai năm 2013, thì các loại giấy chứng nhận được cấp trước ngày 10/12/2009 theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở và xây dựng vẫn có giá trị pháp lý bao gồm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng.

Trước đây, để đơn giản hóa và thống nhất quản lý, Chính phủ đã ban hành Nghị định 88/2009/NĐ-CP (hướng dẫn bởi Thông tư 17/2009/TT-BTNMT) thống nhất một mẫu giấy chứng nhận duy nhất để cấp cho người dân với tên gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Mẫu giấy chứng nhận mới này áp dụng từ ngày 10/12/2009 đến nay để tránh gây khó khăn cho người dân và đảm bảo tính thống nhất trong quản lý.

Theo Luật Đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, có sử dụng chung mẫu giấy chứng nhận mới trên toàn quốc với tên gọi "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất" như sau:

- Trong trường hợp người sử dụng đất yêu cầu chứng nhận quyền sử dụng đất, nếu đủ điều kiện, sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, và thông tin được ghi ở phần thửa đất.

- Trong trường hợp người sử dụng đất yêu cầu chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, sẽ được cấp giấy chứng nhận và ghi thông tin tại mục nhà ở. Điều này thường xảy ra trong trường hợp bố mẹ cho đất cho con xây nhà nhưng không sang tên, vì đất vẫn thuộc sở hữu của bố mẹ trong khi nhà ở thuộc sở hữu của con.

- Trong trường hợp người sử dụng đất yêu cầu cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, sẽ được cấp giấy chứng nhận với đầy đủ thông tin ở các mục về thửa đất, nhà ở và tài sản khác.

Ngoài ra, giấy chứng nhận được cấp trước ngày 10/12/2009 (như Sổ đỏ, Sổ hồng cũ) vẫn có giá trị pháp lý và không cần phải đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Nếu có nhu cầu cấp đổi sang loại mới, người sử dụng đất có thể yêu cầu cấp đổi.

Như vậy, cho tới thờ điểm hiện tại chưa có văn bản pháp luật nào định nghĩa khái niệm "sổ đỏ" là gì?. Thuật ngữ này thường được sử dụng để chỉ "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất", dựa trên màu sắc của giấy chứng nhận này. Tương tự, "sổ hồng" là tên gọi của "Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở" tại các khu đô thị (thị trấn, nội thành, nội thị xã) do Bộ Xây dựng ban hành, cũng dựa trên màu sắc của giấy chứng nhận này. Tuy nhiên, cả hai thuật ngữ này chưa được quy định cụ thể tại văn bản nào..

 

2. Cách phân biệt giữa sổ hồng và sổ đỏ

Về thời gian và cơ quan ban hành sổ

- Sổ hồng: "Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở" được cấp bởi Bộ Xây dựng trước ngày 10/8/2005, sau đổi thành "Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng" và được cấp từ ngày 10/8/2005 đến trước ngày 10/12/2009.

- Sổ đỏ: "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" được cấp trước ngày 10/12/2009 do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, với tên gọi pháp lý là "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất".

Về đối tượng sử dụng

- Sổ đỏ chứng minh quyền sử dụng đất và là công cụ bảo vệ quyền hạn và lợi ích của chủ sở hữu đất.

- Sổ hồng được sở hữu bởi chủ nhà, đồng thời là chủ sử dụng đất ở và chủ sở hữu căn hộ trong nhà chung cư.

Về khu vực được cấp sổ

- Sổ hồng (Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng) có khu vực cấp sổ là đô thị.

- Sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) có khu vực cấp sổ ngoài đô thị.

Về loại đất được cấp sổ

- Sổ hồng được cấp cho đất ở đô thị.

- Sổ đỏ được cấp cho loại đất ở nông thôn, đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và khu làm muối.

Như vậy, dựa vào những quy định và phân tích như trên thì có sự so sánh, phân biệt giữa sổ đỏ và sổ hồng cụ thể như sau:

- Sổ đỏ là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Sổ hồng là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

 

3. Sổ hồng và sổ đỏ, sổ nào giá trị hơn theo quy định mới 

Về giá trị pháp lý

Cả sổ hồng và sổ đỏ đều có giá trị pháp lý, thể hiện trong việc ghi nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, cùng với tài sản khác liên quan đến đất. Tuy nhiên, "sổ" chỉ là một "giấy" ghi nhận quyền liên quan đến đất, còn sổ thật sự thì không có giá trị riêng biệt.

Về giá trị thực tế

Giá trị của sổ đỏ và sổ hồng được xác định dựa trên giá trị thực tế của tài sản như thửa đất, nhà ở, và tài sản khác gắn liền với đất. Theo Nghị định 88/2009/NĐ-CP, hai loại giấy này đã được thống nhất thành một loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, được ban hành bởi Bộ Tài nguyên và Môi trường. Luật Đất đai 2013 đã quy định rằng loại giấy này sẽ được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo một mẫu thống nhất trên toàn quốc. Tuy nhiên, những Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã được cấp trước ngày 10/12/2009 và vẫn còn giá trị pháp lý sẽ không bị đổi sang loại giấy mới. Nếu có nhu cầu đổi sang loại giấy mới trong trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận trước ngày 10/12/2009, thì vẫn được đổi.

Như vậy, giá trị thực tế thật sự của sổ đỏ và sổ hồng nằm ở giá trị thực tế của tài sản là thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Như đã được trình bày ở phía trên, việc thế chấp vay vốn bằng sổ đỏ hoặc sổ hồng đều có giá trị tương đương nhau. Tuy nhiên, việc vay được số tiền nhiều hay ít sẽ phụ thuộc vào giá trị của căn nhà, diện tích và đánh giá của ngân hàng. Điều này đem lại lợi ích cho nhà đầu tư muốn tăng thêm lợi nhuận bằng cách quay vòng vốn.

Tuy nhiên, việc sử dụng sổ đỏ hoặc sổ hồng để thế chấp vay vốn phải tuân thủ quy định của pháp luật. Người vay sẽ phải cung cấp các giấy tờ liên quan và ký hợp đồng vay vốn với ngân hàng. Thời gian ngân hàng giữ các giấy tờ bắt đầu từ khi ký hợp đồng vay vốn cho đến khi trả toàn bộ số tiền gốc cùng lãi đúng thời hạn quy định.

Trước khi sử dụng sổ đỏ hoặc sổ hồng để thế chấp vay vốn, người vay cần xem xét khả năng chi trả của mình. Nếu không thể trả đủ tiền khi đến hạn, người vay có thể xin đảo hạn, tuy nhiên nếu vẫn không thể trả được thì tài sản đang được thế chấp sẽ bị thanh lý. Do đó, người vay cần tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi thực hiện việc thế chấp bằng sổ đỏ hoặc sổ hồng.

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Theo Luật mới hiện hành sẽ được cấp sổ đỏ hay sổ hồng khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Sổ hồng và sổ đỏ, sổ nào giá trị hơn theo quy định mới. Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.