1. Khái quát về Hiệp định GATS
Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (tiếng Anh: General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS) là một hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hiệp định được ký kết sau khi kết thúc Vòng đàm phán Uruguay và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1995. Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không chỉ điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó.
Tất cả các thành viên của WTO đều tham gia GATS. Các nguyên tắc cơ bản của WTO về đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia cũng đều áp dụng với GATS.
2. Sự cần thiết của thỏa thuận về thương mại dịch vụ
Việc ký kết một thỏa thuận về thương mại dịch vụ trong khuôn khổ những quy tắc của hệ thống thương mại có lẽ là khía cạnh mới mẻ nhất của Vòng Uruguay. Trong khi thương mại hàng hóa toàn cầu đã đạt mức 10,4 ngàn tỷ đô- la vào năm 1995, giá trị của thương mại dịch vụ cũng đã tăng trưởng nhanh chóng và đạt mức 2,28 ngàn tỷ đô-la trong cùng năm ấy (Ngân hàng Thế giới 1997). Hơn thế nữa, một phần khá lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là đổ vào các khu vực cung ứng dịch vụ. Việc tích hợp lĩnh vực dịch vụ vào quy tắc thương mại đã lần đầu tiên liên quan đến việc làm luật về các khía cạnh của sự dịch chuyển lao động và quyền thiết lập cơ sở kinh doanh ở nước khác vì những chuyện này về thực chất đều liên can tới việc cung ứng dịch vụ xuyên biên giới quốc gia. Thương mại dịch vụ đã bị bỏ ra ngoài Hiệp định GATT và ý nghĩa của nó trong quan hệ kinh tế quốc tế nói chung đã không được đánh giá đầy đủ. Dịch vụ không chỉ xuyên qua biên giới theo những cách thức giống như hàng hóa, khi người bán và người mua ở cách xa nhau và gửi hàng qua biên giới, về bản chất, dịch vụ là không thể lưu trữ được: hành vi sản xuất và tiêu thụ về bản chất là diễn ra đồng thời. Vì lý do này, nhà cung cấp dịch vụ và người thụ hưởng dịch vụ phải hên hệ với nhau. Điều này đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa về thông tin không đối xứng vì người sử dụng dịch vụ thường không biết dựa vào đâu mỗi khi gặp dịch vụ kém chất lượng. Các chính phủ nói chung giữ một thái độ điều tiết mạnh mẽ trên thị trường dịch vụ, thường là bằng cách điều tiết nhà cung cấp dịch vụ và quy trình cung cấp dịch vụ. Phương pháp điều tiết này hiển nhiên tự nó sẽ trở nên khó khăn trong trường hợp dịch vụ xuyên biên giới. Nhưng nó cũng tương đối dễ dàng dẫn tới sự phân biệt đối xử với nhà cung cấp nước ngoài. Như vậy, thách thức chính trong công cuộc tích hợp dịch vụ vào hệ thống thương mại là ở chỗ xác định hành động hướng nội nào trong thực tế là rào cản thương mại, còn những quy định nào là cần thiết và cẩn trọng.
Hơn thế nữa, không thể đạt tới thỏa thuận về tự do hóa thương mại dịch vụ chỉ bằng cách áp dụng những quy tắc cũ về không phân biệt đối xử vào các lĩnh vực được ghi trong danh mục. Dựa trên thành công của công thức đó trong bốn mươi năm qua các vòng đàm phán của GATT, các nhà thương thuyết về thương mại dịch vụ đã bắt đầu công việc với một bộ khung pháp lý, đòi hỏi tất cả các bên phải cung cấp không điều kiện sự đối xử tối huệ quốc cho lĩnh vực dịch vụ của các bên còn lại và cho các lĩnh vực dịch vụ phụ đã được khẳng định trong danh mục mà lẽ ra sẽ được đối xử theo nguyên tắc đối xử quốc gia. Cách tiếp cận này hoàn toàn thất bại bởi vì tính không đối xứng trong độ cởi mở, nghĩa là các quốc gia có các lĩnh vực dịch vụ phụ khép kín chỉ có thể hưởng lợi về kinh tế nhờ những dịch vụ mở: những nền kinh tế khép kín gần như không đưa vào danh mục khẳng định bất kỳ lĩnh vực phụ khép kín nào của họ và mong đợi rằng khung pháp lý sẽ bảo đảm cho họ quyền tiếp cận các nền kinh tế mở nhờ vào quy chế tối huệ quốc. Kết quả là, vào giai đoạn cuối của Vòng Uruguay, Hoa Kỳ đã thay đổi thành công các quy tắc của các cuộc đàm phán, chấp nhận vi phạm yêu cầu về quy chế tối huệ quốc trong một số lĩnh vực dịch vụ phụ nhưng quan trọng. Sự chuyển dịch đó tạo ra mối đe dọa có thực là đóng cửa các lĩnh vực phụ trong thương mại dịch vụ đối với các quốc gia không hợp tác và đòi hỏi những đề nghị nghiêm túc từ các quốc gia đang tự do hóa các lĩnh vực dịch vụ phụ quan trọng. Gần như cùng một lúc khoảng tám mươi quốc gia đã đặt lên bàn những đề nghị về tiếp cận các thị trường dịch vụ và những đề xuất này được đồng ý và đưa vào danh mục của quốc gia.
3. Sự ra đời của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ
Kể từ đó Vòng Uruguay tỏ ra thành công trong việc sản sinh ra một thỏa thuận về Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS). Hiệp định GATS bao gồm những nguyên tắc chung chi phối các chính sách có ảnh hưởng đến-thương mại dịch vụ (bao gồm cả quy chế tối huệ quốc không điều kiện và đối xử quốc gia với các lĩnh vực có trong danh mục), các danh mục quốc gia chi tiết hóa mức độ mà mỗi quốc gia đồng ý cung cấp sự tiếp cận vào khu vực dịch vụ, các phụ lục bao hàm những chi tiết về các dịch vụ đặc thù (mà đối với chúng các thỏa thuận dịch vụ khác có thể, và trong thực tế đã, được thêm vào); và hai thỏa thuận quan trọng đặc biệt liên quan đến các lĩnh vực dịch vụ phụ, chi phối dịch vụ viễn thông và tài chính căn bản. Hội đồng về Thương mại Dịch vụ được thành lập để điều hành việc thực thi thỏa thuận này. ở nơi đâu đã tồn tại các thỏa thuận song phương về quyền tiếp cận dịch vụ thì Hiệp định GATS đòi hỏi các thỏa thuận ấy phải mở rộng cho việc thương thuyết của các thành viên khác và chúng phải được thông báo cho WTO. Hai loạt thương thuyết khác cho đến nay chỉ đạt được những kết quả tối thiểu, trong lĩnh vực vận tải biển và các điều kiện cho việc thuyên chuyển các công nhân dịch vụ tạm thời (sự chuyển dịch của con người tự nhiên) như chúng ta sẽ thảo luận bên dưới.
4. Các phương thức cung ứng dịch vụ theo GATS
Hiệp định GATS phân biệt bốn “phương thức” cung ứng một dịch vụ: bán trực tiếp xuyên biên giới (chẳng hạn như dịch vụ Internet hoặc điện thoại viễn hên); tiêu thụ ở nước ngoài (như trong trường hợp du lịch); thiết lập sự hiện diện thương mại (mở chi nhánh hoặc ngân hàng) và tạm nhập cảnh của nhà cung cấp dịch vụ (ví dụ những người không phải là người bản xứ vào làm công tác tư vấn hoặc các nhiệm vụ xây dựng đặc biệt). Trong bốn phương thức giao nhận dịch vụ này, phương thức giống với giao nhận hàng hóa nhất là cung cấp trực tiếp xuyên biên giới. Nhưng trong trường hợp thương mại dịch vụ, vì không có món hàng vật chất nào được di chuyển xuyên biên giới cho nên các giới hạn thương mại sẽ gần như chỉ có thể vận hành hoàn toàn “sau biên giới”. Trong thực tế, “dấu vết” duy nhất của hoạt động thương mại này chính là các khoản giao dịch tài chính đi kèm với dịch vụ ấy. Nếu như quy định được thực hiện ở địa điểm sản xuất thì điểm ấy thường thuộc thẩm quyền thực thi pháp lý của quốc gia của người xuất khẩu, chẳng hạn như quê quán của người đó. Và từ đó thì chính phủ của các nhà nhập khẩu sẽ gặp khó khăn trong việc giám sát đầy đủ những giao dịch như vậy.
5. Hiệp định GATS - Những vấn đề thiếu sót
Hiệp định GATS vẫn còn trong giai đoạn ấu thơ. Nhiều lĩnh vực dịch vụ chưa được tính tới, nhiều khía cạnh của thương mại dịch vụ vẫn chưa được đem ra thương thảo. Điều này bao gồm những vấn đề như trợ cấp trả cho người cung ứng dịch vụ, việc mua sắm dịch vụ của chính phủ, các biện pháp an toàn trước làn sóng nhập khẩu, các tiêu chuẩn kỹ thuật được coi như rào cản đối với thương mại dịch vụ, phẩm chất của các nhà cung cấp dịch vụ, và tiến trình xét. cấp giấy phép cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Dù quy định về nhà cung cấp dịch vụ từ nước ngoài và sự kiểm soát các cơ sở dịch vụ ở nước khác đã đưa chính sách thương mại vào sâu sau biên giới, người ta vẫn nhấn mạnh đến các khía cạnh nào của quy định có liên quan tới thương mại. Những dịch vụ không liên quan tới thương mại và những quy định chỉ liên quan một cách tình cờ thì không được tính đến.
Dù sao đi nữa, cần lưu ý rằng GATS có một số ẩn ý quan trọng và tức thời, ngay cả trong lĩnh vực mà những thỏa thuận đặc biệt chưa được thương thảo. Nó áp đặt một yêu cầu về “tính minh bạch”, nghĩa là mọi quy định ảnh hưởng tới thương mại phải được xuất bản ra và cung ứng sẵn cho các đối tác thương mại. Và các thành viên phải có trình tự thủ tục tố tụng hoặc gần như thủ tục tố tụng như là các tòa án hành chính để xem xét các quyết định hành chính có ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ. Hơn thế nữa, cung cách mà các quốc gia điều tiết các công ty độc quyền (chẳng hạn như các tập đoàn dịch vụ viễn thông) sẽ bị hạn chế để bảo đảm rằng những công ty độc quyền này không phân biệt đối xử chống lại nhà cung cấp nước ngoài. Như vậy, thỏa thuận này là bước đi chủ yếu tiến tới một bộ tiêu chuẩn toàn thế giới, đòi hỏi nền hành chính phải vận hành trong những kiểu mẫu luật pháp tương tự như kiểu mẫu tiêu biểu ở Hoa Kỳ và châu Âu mà ít tiêu biểu đối với châu Á hoặc các quốc gia đang phát triển còn nghèo khó.
Mặc dù những điều kiện chính trị và thương mại chung quanh hoạt động dịch vụ có phần đặc thù theo từng kiểu dịch vụ, một cuộc thảo luận vắn tắt về bốn lĩnh vực quan trọng nhất trong thương mại hàng hóa sẽ đưa ra một chỉ dấu cả về quy mô của cam kết thương mại lẫn nhũng khó khăn trong việc tích hợp những hoạt động như vậy vào quy tắc thương mại.