1. Khái niệm "hợp đồng đầu tư theo hình thức công tư"

Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Public Private Partnership hay còn gọi là đầu tư theo phương thức PPP) là phương thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp tác có thời hạn giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân thông qua việc ký kết và thực hiện hợp đồng dự án theo phương thức đối tác công tư nhằm thu hút nhà đầu tư tư nhân tham gia dự án đối tác công tư.

Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư là loại hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công. Căn cứ vào khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư năm 2020, hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư gồm: hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO), hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO), hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (BTL), hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (BLT), hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (O&M) và hợp đồng hỗn hợp.

Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng là hoạt động quan trọng đối với phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, sử dụng nguồn vốn của nhà nước để đầu tư cho hoạt động này không phải là giải pháp duy nhất và hiệu quả. Đầu tư theo hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) hay theo hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO),...là giải pháp hiệu quả và hữu ích. Việc ban hành các quy định về đầu tư theo các hình thức trên nhằm tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, huy động nguồn vốn ngoài ngân sách của nhà nước, đặc biệt là vốn đầu tư nước ngoài vào hoạt động xây dựng một số công trình kết cấu hạ tầng.

 

2. Khái niệm "hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao" và "hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh"

Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (hay còn gọi là hợp đồng BOT) là hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các công trình được thực hiện theo hình thức BOT sau khi hoàn thành, chủ đầu tư sẽ được phép thu phí để hoàn vốn. Thời gian và khoản phí thu dựa trên quy định của nhà nước, sự thống nhất giữa hai bên. Sau khi thời gian thu phí hoàn tất, công trình được bàn giao lại cho nhà nước. Các công trình được xây dựng thường thấy nhất chính là các tuyến đường giao thông. Vì thế, bên cạnh các công trình được xây dựng thì đồng nghĩa với trạm thu phí mọc lên. Thời hạn thu từ 05 năm đến 20 năm hoặc hơn, tùy vào số vốn bỏ ra xây dựng.

Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (hay còn gọi là hợp đồng BOO) là hợp đồng ký kết giữa các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước với các nhà đầu tư là các doanh nghiệp nhằm mục đích thực hiện các dự án về công trình hạ tầng; và sau khi công trình được hoàn thành thì các nhà đầu tư đó được quyền sở hữu và kinh doanh công trình xây dựng đó trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận đã được ký kết trong hợp đồng BOO giữa cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp đầu tư; khi hết thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng thì nhà đầu tư là các doanh nghiệp đó về mặt pháp lý sẽ chấm dứt các hoạt động của dự án đầu tư theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư.

Hợp đồng BOO là loại hợp đồng được ký kết trên nhiều lĩnh vực xây dựng khác nhau, có thể từ xây dựng đường xá cầu cống cho đến xây dựng những tòa nhà,...và được sử dụng cho mục đích công. Trong các công trình xây dựng đường xá, bao gồm xây dựng đường bộ, đường hàng không, đường sắt hay xây dựng cầu vượt,...và còn xây dựng các công trình khác như bệnh viện, trường học,...

Hai hình thức BOT và BOO có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Thay vì phải đầu tư vốn để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng này, nhà nước đã áp dụng những chính sách ưu đãi cho nhà đầu tư để có được hệ thống cơ sở hạ tầng thông qua việc nhận chuyển giao quyền sở hữu các công trình bằng những phương thức chuyển giao khác nhau từ phía nhà đầu tư. 

 

3. Sự khác nhau về nội dung của hợp đồng

Ở bất kỳ lĩnh vực kinh doanh nào khi quyết định đầu tư vào nó các doanh nghiệp đều phải có đủ điều kiện để có thể ký hợp đồng với cơ quan nhà nước trong các công trình xây dựng.

Đối với hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), nội dung của hợp đồng bao gồm: sự thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc xây dựng, kinh doanh và chuyển giao công trình cho nhà nước Việt Nam. Nhà đầu tư từ bỏ vốn xây dựng công trình và phải bàn giao công trình đó cho nhà nước.

Còn đối với hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO), thông thường các cơ quan nhà nước không có hợp đồng cụ thể mà chỉ là các quyết định về toàn quyền sử dụng, quản lý trong lĩnh vực đầu tư cho doanh nghiệp đầu tư, theo đó các doanh nghiệp xây dựng, sở hữu và kinh doanh theo thời hạn nhất định.

 

4. Sự khác nhau về thời điểm chuyển giao

Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT) thì sau khi xây dựng xong nhà đầu tư được phép kinh doanh trong một thời hạn nhất định, hết thời hạn nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.

Trong quy định hiện hành, một năm trước ngày chuyển giao hoặc trong thời gian thỏa thuận trong hợp đồng dự án, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án phải đăng báo công khai về việc chuyển giao công trình, thủ tục, thời gian thanh lý hợp đồng, thanh toán các khoản nợ và phải đảm bảo tài sản chuyển giao công trình, thủ tục; thời gian thanh lý hợp đồng, thanh toán các khoản nợ và phải đảm bảo tài sản chuyển giao không được sử dụng để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ khác của nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án phát sinh trước thời điểm chuyển giao, trừ trường hợp hợp đồng dự án có quy định khác. Mặt khác, doanh nghiệp dự án phải có trách nhiệm chuyển giao công nghệ, đào tạo và thực hiện việc bảo dưỡng định kỳ để bảo đảm điều kiện kỹ thuật vận hành công trình bình thường phù hợp với các yêu cầu của hợp đồng dự án.

Đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký kết hợp đồng dự án, cơ quan này phải có trách nhiệm tổ chức thẩm định chất lượng, giá trị, tình trạng công trình theo thỏa thuận tại hợp đồng dự án, lập danh mục tài sản chuyển giao, xác định các hư hại (nếu có) và yêu cầu doanh nghiệp thực hiện việc sửa chữa, bảo trì công trình. Sau khi tiếp nhận công trình dự án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức quản lý, vận hành công trình.

Từ đó, nhận thấy rằng hệ thống pháp luật hiện hành về cơ bản đầy đủ để tiến hành thực hiện các dự án BOT từ khâu lập, công bố danh mục dự án; lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi; lựa chọn nhà đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, thành lập doanh nghiệp  dự án; đầu tư xây dựng công trình dự án, ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng, thanh toán, kết thúc hợp đồng dự án, quyết toán công trình dự án.

Còn hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO), sau khi công trình được hoàn thành thì các nhà đầu tư được quyền sở hữu và kinh doanh công trình xây dựng đó trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận đã được ký kết trong hợp đồng BOO giữa cơ quan nhà nước và các doanh nghiệp đầu tư. Nhưng trên thực tế công trình đó vẫn thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước. Khi hết thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng thì nhà đầu tư là các doanh nghiệp dự án đó về mặt pháp lý sẽ chấm dứt các hoạt động của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.

 

5. Lợi ích có được từ hợp đồng

Đối với hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), lợi ích mà nhà đầu tư được hưởng phát sinh từ việc kinh doanh công trình đó, chuyển giao không bồi hoàn công trình nên nhà nước không phải bồi hoàn chi phí cho nhà đầu tư. Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư hoàn toàn chủ động trong khâu kinh doanh, khai thác công trình để thu hồi vốn và lợi nhuận vì công trình theo hợp đồng này sau khi xây dựng sẽ được chủ đầu tư khai thác nhằm thu hồi vốn và tìm kiếm lợi nhuận trong một khoảng thời gian xác định trước khi chuyển giao cho nhà nước.

Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO), trong quá trình thực hiện hợp đồng thì Nhà nước đã trao cho nhà đầu tư quyền sở hữu cũng như sự chủ động với dự án. Nhà đầu tư có quyền quyết định hoàn toàn các vấn đề phát sinh từ dự án.

Tại Việt Nam, các công trình được triển khai theo hợp đồng BOT và hợp đồng BOO đang diễn ra ngày một nhiều. Chúng ra đời giúp giải tỏa không ít áp lực về ngân sách đầu tư xây dựng cho chính phủ. Việc lựa chọn cho các các công ty tư nhân trong và ngoài nước đủ năng lực đấu thầu và thu phí giúp quá trình cạnh tranh chất lượng diễn ra mạnh mẽ, mở ra điều kiện tốt nhất về cơ sở hạ tầng cho người dân. Tạo ra một khối lượng công ăn việc làm cho người lao động trong cả nước, giảm bớt gánh nặng về lực lượng thất nghiệp trong cả nước. Không chỉ sử dụng nguồn lao động để xây dựng các công trình đó mà còn tạo việc làm cho lao động khi công trình hoàn thành và đi vào hoạt động kinh của nó. Phần nào gips thay đổi bộ mặt xã hội của đất nước, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển kinh doanh tại Việt Nam và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài.

Mọi vướng mắc pháp lý, vui lòng liên hệ: Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi số: 1900.6162 để được tư vấn, hỗ trợ trực tiếp.

Luật Minh KHuê (Sưu tầm và biên tập)