Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu đến Công ty của chúng tôi, để giải đáp thắc mắc các yêu cầu của bạn Công ty Luật Minh Khuê sẽ cùng bạn làm rõ một số vấn đề với nội dung như sau:

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

1. Khoa học luật hiến pháp nước ngoài:

So với các ngành khoa học pháp lý khác, khoa học luật hiến pháp còn tương đối trẻ. Trước đây khoa học luật hiến pháp là một bộ phận của khoa học triết học, khoa học xã hội học. Đến đầu thế kỷ thứ XX khoa học luật hiến pháp được tách ra trở thành khoa học độc lập.

Khoa học luật hiến pháp nghiên cứu những quy phạm, chế định của ngành luật hiến pháp, nghiên cứu những quan hệ xã hội đang được, có thể hoặc cần được điều chỉnh. Khoa học luật hiến pháp còn nghiên cứu cả thực tiễn áp dụng, vận dụng quy phạm pháp luật hiêh pháp, quan điểm, luận điểm của các nhà chính trị các nhà nghiên cứu Luật Hiến pháp.

>> Xem thêm:  Quyền tư pháp là gì ? Quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013

Có thể coi khoa học luật hiến pháp của các nước trên thế giới nói chung là phần chung của khoa học luật hiến pháp của mỗi nước. Bởi lẽ chủ nghĩa lập hiến là thành tựu chung của nhân loại. Mỗi nước tự xác định cho mình mô hình chế độ xã hội - chính trị, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước riêng. Tuy nhiên, từng cái riêng của mỗi nước đều xuất phát từ cái chung là nội dung cơ bản của chủ nghĩa lập hiến - nhân dân là nguồn của mọi quyền lực, và vì vậy các quyền, tự do của cá nhân phải được ghi nhận và bảo đảm trong bất cứ nhà nước, xã hội nào.

2. Khoa học luật hiến pháp của các nước trên thế giới

Trước khi khoa học luật hiến pháp ra đời, ở châu Âu có nhiều nhà tư tưởng lớn như Grotius, Xpinoza của Hà Lan; Hobbes, John Locke của Anh; Charles Montesquieu, Jean Jaques Rousseau của Pháp. Trong các tác phẩm của mình các nhà tư tưỏng này đã đưa ra một số học thuyết như: Chủ nghĩa lập hiến, chủ quyền nhân dân, đại diện nhân dân, phân chia quyền lực... Nội dung của các học thuyết này đã được giai cấp tư sản sử dụng làm vũ khí trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến chuyên quyền.

Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX một ngành khoa học độc lập đã hình thành, lúc đó những tư tưởng dân chủ tiên bộ nói trên mói được thể hiện dưới hình thái pháp lý. Trong thế kỷ XIX xuất hiện các học giả lớn sau: W.Bagehot, Doisy, G.Myers (Anh), Laban (Đức), A.Esmein (Pháp), Ghecxen, Belinxki, Corcunop, Lagiarepxki (Nga)... Các học giả này đã xây dựng học thuyết về chủ nghĩa đại nghị, nhà nước xã hội, nhà nước dân chủ, nhà nước pháp quyền.

Đầu thế kỷ XX có các tác giả nổi tiếng: D.Bryan (Anh) Elinech (Đức), V.Orlando (Italia), Gurvich (Nga), L.Duguit, H.Monnier, R.Bonnard, G.Berlia (Pháp). Trong các tác phẩm của mình các học giả đưa ra các luân điểm về đoàn kết dân chủ phi giai cấp, hạn chế quyền lực của Nghị viện, tăng cường vai trò của Chính phủ frong lĩnh vực lập pháp, tư tưởng “một chính quyền mạnh” v.v...

Từ giữa thế kỷ XX đến nay khoa học luật hiến pháp của các nước phát triển cùng với tên tuổi của các học giả C.A.de Smith, Hilaire Barnett, J.Mackitosh, O.Philip (Anh); Manz, O.Bachop, K.Hexe, K.Xton (Đức); L.Tribe, K.Philip (Mỹ); M.Prelot, G.Vedel, G.Burdeau, M.Duverger, Ph.Ardant (Pháp)... cùng với các học thuyết mới như học thuyết dân chủ đa nguyên, học thuyết “nhà nước thịnh vượng chung” học thuyết “dân chủ tinh anh”, học thuyết kỹ trị....

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, ở nước Nga hình thành một xu hướng mới trong lịch sử lập hiến của nhân loại với các tên tuổi như . I.Stuchki, V.Krulenko... Các học giả này dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin xây dựng một mô hình nhà nước mới, nhà nước chuyên chính vô sản với nguyên tắc quyền tối cao của Xô Viết tối cao (Quốc hội), tất cả chính quyền thuộc về Xô Viết, nguyên tắc tập quyền tập trung dân chủ v.v... Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai (năm 1945) khoa học luật hiến pháp xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển và đạt được những thành tựu to lớn. Những thành tựu của Luật Hiến pháp xã hội chủ nghĩa gắn vói tên tuổi của các học giả Xô Viết như C.Avakian, B.Bahalaxep, A.Bacdanova, M.Brodovich, L.Zlataponxki, E.Cutaphin. PhXeremet, Ph.Vaxiliep, L.Vaievodin, B.Xtpaxun v.v... Các học giả này đã xây dựng luận điểm xã hội chủ nghĩa về dân chủ, đại diện nhân dân, chủ quyền nhân dân, chủ quyền dân tộc, chế độ bầu cử xã hội chủ nghĩa...

3. Vấn đề nghiên cứu khoa học luật hiến pháp nước ngoài ở Việt Nam

>> Xem thêm:  Lập hiến là gì ? Quy định pháp luật về lập hiến

3.1 Quá trình phát triển của khoa học luật hiến pháp nước ngoài ở Việt Nam

Có thể nói một cách chắc chắn rằng khoa học luật hiến pháp nước ngoài đã hình thành ở nước ta vào những năm đầu của thế kỷ XX. Nghiên cứu luật hiến pháp nước ngoài không những được tiến hành bởi các nhà luật học mà còn bởi các nhà cách mạng tiền bối của nước ta như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Ái Quốc. Các tư tưởng tinh hoa của khoa học luật hiến pháp như chủ quyền nhân dân, chế độ Nghị viện, chế độ bầu cử, nguyên tắc phân chia, kiềm chế và cân bằng quyền lực v.v... đã được Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc và các nhà trí thức khác truyền bá vào Việt Nam(1). Trong các nhà hiến pháp học đầu tiên của Việt Nam phải kể đến Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyên Ái Quốc. Ngoài ra cũng cần phải kể đến các nhà tư tưởng lập hiến theo chủ nghĩa quốc gia cải lương, muốn dựa vào Pháp, sử dụng báo chí và nghị trường để xây dựng Hiến pháp và mở mang dân chủ. Cuộc bút chiến về vấn đề "trực trị" hay "quân chủ lập hiến'' giữa Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh thể hiện tư tưởng chính trị sai lầm của một số trí thức thân Pháp. Nguyên Văn Vĩnh muốn xóa bỏ chế độ vua quan tại miền Bắc và miền Trung và thiết lập chế độ cai trị trực tiếp của Chính phủ Pháp, còn Phạm Quỳnh muốn cải cách chế độ quân chủ chuyên chế thành

Theo tư tưởng của Phạm Quỳnh và Bùi Quang Chiêu thì phải xây dựng một bản Hiến pháp vừa đảm bảo "quyền dân chủ" cho nhân dân, "quyền điều hành đất nước" của Hoàng đế và "quyền bảo hộ" của Chính phủ Pháp. Mặc dù có quan điểm chính trị sai lầm là thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp nhưng Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu cũng đã có những đóng góp nhất định trong việc truyền bá tư tưởng lập hiến nhằm cải cách nền quân chủ chuyên chế của chế độ phong kiến Việt Nam đã lỗi thời.

Việc xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta - Hiến pháp năm 1946, một bản Hiến pháp kết tinh những tinh hoa của khoa học luật Hiến pháp hiện đại với những tư tưởng đoàn kết toàn dân, xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt, đảm bảo các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân và cách thức thể hiện một cách tài tình các tư tưởng đó trong Hiến pháp chứng tỏ sự hiểu biết sâu sắc luật hiến pháp nước ngoài của các nhà lập hiến Việt Nam. Đó là tên tuổi của các nhà lập hiến như Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy, Đặng Thai Mai, Vũ Trọng Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) - những người trong ủy ban dự thảo Hiến pháp năm 1946. Hiến pháp năm 1946 còn là thành quả của sự đóng góp tích cực của ủy ban kiến quốc với tên tuổi của những luật sư như Phan Anh, Vũ Văn Hiền, Trần Văn Chương; những giáo sư khoa học như Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Xiển, những nhà nghiên cứu văn học như Đặng Thai Mai nhiều giáo sư đại học như Ngụy Như Kon Turn.

Không chỉ trong việc xây dựng Hiến pháp năm 1946 mà trong việc xây dựng các Hiến pháp về sau các nhà lập hiến Việt Nam đều quan tâm đến việc nghiên cứu và so sánh đối chiếu với các Hiến pháp nước ngoài ngõ hầu tiếp thu học tập những tinh hoa của khoa học luật Hiến pháp nước ngoài.

Tuy nhiên, nếu so sánh những thành tựu đã đạt được của khoa học luật hiến pháp nước ngoài với những công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam về những thành tựu đó thì có thể nhận xét rằng, trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học luật hiến pháp nước ngoài chúng ta còn nhiều hạn chế.

Dưới chế độ Sài Gòn trước đây có một số công trình nghiên cứu về khoa học luật hiến pháp nước ngoài của học giả Nguyễn Văn Bông, Nguyễn Độ, Lê Đình Chân.

Đối với nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trước những năm 90 của thế kỷ XX các học giả Việt Nam chỉ tập trung nghiên cứu tổ chức bộ máy nhà nước của các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô cũ. Hơn nữa việc nghiên cứu này chỉ giới hạn trong phạm vi tham khảo phục vụ cho việc ban hành các đạo luật về tổ chức nhà nước của nước Việt Nam.

Từ những năm 90 trở lại đây, trên tinh thần đổi mới, việc nghiên cứu tổ chức nhà nước của các nước được đẩy mạnh. Ngoài ra các học giả Việt Nam còn mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các lĩnh vực khác như hiến pháp, vâh đề nhân quyền, chế độ bầu cử v.v...

3.2 Công trình nghiên cứu của các học giả

Các học giả đã công bố các công trình sau:

>> Xem thêm:  Hợp hiến là gì ? Khái niệm hợp hiến được hiểu như thế nào ?

"Thuyết tam quyền phân lập và bộ máy nhà nước tư sản hiện đại" của PGS,TS Đinh Ngọc Vượng (Hà Nội năm 1992); "Chuyên đề về Hiến pháp" của viện nghiên cứu khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (Hà Nội năm 1992); "Những vẩh đề cơ bản của hiến pháp của các nước trên thế giới" của tập thể các nhà khoa học GS,TS. Nguyên Đăng Dung, PGS, TS. Bùi Xuân Đức, PGS,TS. Đinh Ngọc Vượng, PGS,TS. Phạm Hữu Nghị, do GS, TSKH. Đào Trí úc chủ biên (Hà Nội năm 1992); Giáo trình "Luật hiến pháp của các nước tư bản" của GS,TS. Nguyên Đăng Dung và PGS,TS. Bùi Xuân Đức (Hà Nội 1993); Giáo trình Luật hiến pháp nước ngoài của Đại học luật Hà Nội do PGS,TS. Thái Vĩnh Thắng chủ biên năm 1999. "Sự ra đời và phát triển của Hiến pháp trong lịch sử" của TS. Nguyễn Đình Lộc (giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam - Hà Nội năm 2009 do PGS,TS. Thái Vĩnh Thắng chủ biên); "Quyền con người trong thế giới hiện đại" cúa tập thể tác giả do GS. Hoàng Văn Hảo, TS. Phạm Khiêm ích chủ biên (Hà Nội năm 1995); "Tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở một số nước trên thế giới" (Hà Nội nãm 1997) và "Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới" (Hà Nội năm 1997) của TS. Vũ Hồng Anh. “Hiến pháp: Những vấh đề lý luân và thực tiễn” do GS,TS. Nguyễn Đăng Dung, GS,TS. Phạm Hồng Thái và TS. Vũ Công Giao chủ biên, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2011. “Tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước” của PGS,TS. Thái Vĩnh Thăng, Nxb. Tư pháp, 2011.

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành, như Nhà nước và pháp luật, Luật học, Dân chủ và pháp luật, Nghiên cứu lập pháp, Người đại biểu nhân dân của GS,TSKH. Đào Trí úc, GS,TS. Trần Ngọc Đường, GS,TS. Nguyễn Đăng Dung, GS,TS. Phạm Hồng Thái, GS,TS. Phan Trung Lý, PGS,TS. Chu Hồng Thanh, PGS,TS. Thái Vĩnh Thắng, GS,TSKH. Lê Cảm, TS. Vũ Hồng Anh, TS Vũ Công Giao, PGS,TS. Nguyễn Minh Đoan, PGS,TS. Bùi Xuân Đức, PGS,TS Trương Đắc Linh, TS. Vũ Văn Nhiêm, TS. Vũ Đức Khiển, TS. Nguyên Cảnh Hợp, TS. Trương Thị Hồng Hà, TS. Đặng Minh Tuấn, ThS. Bùi Ngọc Sơn và các tác giả khác.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư pháp là gì ? Khái niệm tư pháp được hiểu như thế nào ?

Câu hỏi thường gặp về khoa học luật hiến pháp nước ngoài ?

Câu hỏi: Đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp là?

Trả lời:

Đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp là những quan hệ xã hội do Luật Hiến pháp tác động vào nhằm thiết lập một trật tự xã hội nhất định phù hợp với ý chí nhà nước.

Câu hỏi: Vai trò của hiến pháp đối với mỗi quốc gia?

Trả lời:

Hiến pháp là đạo luật cơ bản có giá trị pháp lí cao nhất. Hiến pháp là nền tảng cho hệ thống các văn bản pháp luật khác, góp phần nền tảng tạo lập một thể chế chính trị dân chủ và một Nhà nước minh bạch, quản lý xã hội hiệu quả, bảo vệ tốt các quyền lợi của người dân. 

Câu hỏi: Ý nghĩa của hiến pháp đối với mỗi người dân?

Trả lời:

Hiến pháp góp phần tạo lập một nền dân chủ thực sự. Người dân được tự do thực hiện quyền tham gia các hoạt động văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội. Hiến pháp ghi nhận đầy đủ các quyền con người, quyền công dân phù hợp với các chuẩn mực chung của cộng đồng quốc tế, cũng như các cơ chế cho phép mọi người dân có thể sử dụng để bảo vệ các quyền của mình khi bị vi phạm. Hiến pháp là công cụ pháp lí đầu tiên và quan trọng để bảo vệ quyền con người, quyền công dân.