1. Khái quát về sự phổ biến quyền ở Việt Nam
Từ lâu tầm quan trọng của việc tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đã được thừa nhận ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc triển khai công tác này còn có một số tồn tại như chất lượng chưa cao, phương pháp và hình thức tiến hành còn bất hợp lý, khô khan, đơn điệu và thiếu sức hấp dẫn. Vì vậy, trình độ hiểu biết pháp luật của nhiều nhóm đối tượng còn thấp. Kết quả khảo sát cho thấy ngay ở Hà Nội một số công nhân không biết nội dung của Hiến pháp. Có tối 33,3% người không biết việc tranh chấp nhà ở là vấn đề tương đối bức xúc và các quy định về nó có liên quan trực tiếp tới quyền lợi của họ.
2. Quyền của trẻ em
Trong khi Luật về quyền trẻ em (hoặc ở một số quốc gia khác) nghiêm cấm việc sử dụng hình phạt thân thể đối với trẻ em thì trên thực tế ở Việt Nam hình phạt thân thể đối với trẻ em được coi là biểu hiện của một hình thức giáo dục trẻ em theo truyền thống “Yêu cho roi cho vọt” và phương tiện truyền thông thì cho rằng bạo lực nhà trường đáng tiếc là đã không còn là đề tài lạ. Các hình thức phạt thường thấy ở nhà trường là quỳ, đứng, dùng thước quật vào tay, vào mông, tát, véo tai, dọn nhà vệ sinh, ném phấn vào mặt hoặc bị la mắng bằng những từ ngữ khó nghe..., nhìn chung được chấp nhận trong cộng đồng và khá phổ biến trong bối cảnh giáo dục, nhất là ở cấp tiểu học và trung học cơ sở. Nghiên cứu điều tra tại ba trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở Hà Nội của Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ và Gia đình đưa ra con số thống kê như sau: 72% thầy cô công nhận đã phạt học trò đứng trước lớp, 33% ném thước kẻ, phấn vào mặt học sinh, 68% thường xuyên mắng, 67% thường xuyên cốc đầu học sinh và 59% quật thước kẻ vào tay học sinh. Từ những con số thống kê này, phần nào có thể thấy được sự phổ biến của quyền là rất hạn chế, việc am hiểu và ý thức về luật pháp liên quan đến quyền trẻ em nói riêng và quyền con người nói chung ở mọi đối tượng đều chưa đạt mức có thể hài lòng. Điều này cho thấy công tác giáo dục, tuyên truyền về quyền con người hầu như còn bỏ ngỏ.
Thêm vào đó, còn có một nhận thức khá chủ quan cho rằng vấn đề nhân quyền, vi phạm quyền là vấn đề của các nước tư bản, còn trong chế độ ta, chế độ theo định hướng XHCN thì vấn đề quyền đương nhiên đã được tôn trọng, không cần thiết phải đặt ra nữa. Chính quan niệm này đã dẫn đến sự lơi lỏng thậm chí bỏ ngỏ việc giáo dục về quyền con người, một biện pháp quan trọng nhất cho sự phổ biến của quyền đến với mọi chủ thể của quyền.
3. Nhiều người Việt Nam chưa nhận thức đầy đủ về quyền của mình
Sự tiến bộ về nhân quyền trong những năm qua là điều đáng ghi nhận, nhưng thực tế là việc phổ cập, tuyền truyền về quyền con người vẫn còn hạn chế. Nhiều người dân thực sự không biết quyền lợi của mình khi bị người khác xâm phạm.
Rất nhiều vụ việc xảy ra cho thấy, vì không nhận thức đầy đủ về quyền con người đã dẫn đến những hậu quả đáng tiếc, chẳng hạn như việc công khai hình ảnh, danh tính của những phụ nữ bán dâm, lạm dụng quyền lực trong trường học của các thày cô giáo, cha mẹ xâm phạm đời tư của con cái, tung clip đánh ghen hay nhục mạ, vu khống người khác trên môi trường mạng…
Hạn chế về nhận thức là khó khăn lớn nhất trong thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Nguyên nhân là do công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền con người chưa được chú trọng. Việc đưa nội dung giáo dục về quyền con người vào các cấp học còn là nội dung mới, chưa được quan tâm thích đáng cả về nội dung và thời lượng.
Bên cạnh đó, ý thức pháp luật của người dân nói chung còn hạn chế mà cụ thể là ý thức tuân thủ pháp luật, sử dụng luật sư hoặc tư vấn pháp luật trong hoạt động hàng ngày còn chưa được quan tâm. Cuối cùng là nguồn lực dành cho công tác phổ cập tuyên truyền về quyền con người còn chưa được đầu tư thích đáng.
Từ thực tế trên, tháng 9/2017, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trong đó, nội dung quyền con người được giáo dục từ bậc mầm non đến đại học. Mục tiêu của Đề án là đến năm 2025, 100% các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân tổ chức giáo dục quyền con người cho người học. Đề án được kỳ vọng sẽ khắc phục được căn bản những hành vi vi phạm nói trên về quyền con người.
Hay như Luật Tiếp cận thông tin (TCTT) có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2018. Tại điều 17 của Luật Tiếp cận thông tin quy định 46 loại thông tin bắt buộc các cơ quan Nhà nước, từ cấp phường xã trở lên phải công khai rộng rãi, trong đó có những thông tin rất quan trọng như: Thông tin về mua sắm tài sản công, dự án đầu tư công, dự toán và thực hiện ngân sách nhà nước, thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất… Những thông tin liên quan mật thiết đến đời sống, sản xuất kinh doanh của người dân thì họ đều có quyền được biết.
4. Còn có những nhận thức khác nhau về quyền tự do ngôn luận, báo chí…ở Việt Nam
Vấn đề quyền con người, mà cụ thể là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí… ở Việt nam được một số nước và tổ chức quốc tế quan tâm, thậm chí gây sức ép đối với Việt Nam. Theo PGS.TS Đặng Dũng Chí, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, nhân quyền là một lĩnh vực khá phong phú, đa diện nên luôn có những nhận thức khác nhau.
Trong những năm qua, Việt Nam luôn chú trọng bảo đảm quyền tự do ngôn luận, quyền tự do tiếp cận thông tin... của người dân. Với hệ thống truyền thông báo chí khá phong phú, đa dạng, các cơ quan báo chí không chỉ là cơ quan ngôn luận của các ngành, các cấp mà còn là diễn đàn của nhân dân. Thông qua các cơ quan báo chí, người dân có thể bày tỏ quan điểm, nguyện vọng…về mọi vấn đề của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, với sự xuất hiện của mạng internet, người dân còn có cơ hội chia sẻ nhiều hơn nữa những sự quan tâm của mình.
Trên thực tế, Hiến pháp 2013 cũng xác nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình… Các quyền trên trên chỉ có thể bị hạn chế “vì lợi ích an ninh quốc gia, trật tự xã hội…”. PGS.TS Đặng Dũng Chí cho rằng, việc quan tâm đến tự do ngôn luận, tự do báo chí của các nước đối với Việt Nam, cần phải phân biệt giữa một bên là sự quan tâm từ một nền tảng dân chủ, nhân quyền được xây dựng qua hàng trăm năm với một bên là sử dụng dân chủ, nhân quyền như một công cụ cho các mục tiêu chính trị.