Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
Vấn đề hiểu tâm lý và tác động tâm lý có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống nói chung và tìm kiếm sự thật nói riêng. Hiểu được tâm lý người không phải là vấn đề đơn giản: “sông sâu còn có kẻ dò, lòng người ai dễ mà đo cho tường”, cũng có trường hợp thể hiện kiểu “lòng vả cũng như lòng sung”, nhưng cũng có trường hợp “bách nhân bách tính”. “Thức lâu mới biết đêm dài, sống lâu mới biết lòng người có nhân”, điều này chưa chắc chắn vì “không ai học được chữ ngờ”. Có khi mình cũng không hiểu được hết những hiện tượng tâm lý của mình, huống chi hiểu được tâm lý người khác.
Tác động đến con người nhằm đạt được mục đích, hiệu quả mà ta mong muốn cũng là vấn đề phức tạp không kém. Nhiều người biết: Muốn dẫn dụ ai thì phải thoả mãn nhu cầu của họ, nhưng một số người lại không có “lực”, hoặc không biết làm thế nào để đạt hiệu quả tối ưu. Càng phức tạp và khó khăn khi hai phía có nhu cầu khác nhau: một phía cố tình che giấu sự thật, còn phía bên kia quyết tìm ra sự thật. Việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm đòi hỏi chủ thể phải biết sử dụng tác động tâm lý.
2. Những vấn đề chung về tác động tâm lý trong hoạt động điều tra vụ án hình sự
2.1 Khái niệm
Tác động tâm lý: Đó là tác động có mục đích, có kế hoạch của người này (cá nhân hay nhóm người) đến tâm lý của người khác nhằm biến đổi hiện tượng tâm lý nào đó của họ, từ đó dẫn đến sự thay đổi hành vi phục vụ cho yêu cầu cụ thể của người gây ra tác động.Tác động tâm lý không nên hiểu theo kiểu quy gọn: chủ thể chỉ sử dụng ngôn ngữ. Trong tác động tâm lý chủ thể tác động có thể sử dụng hành vi, công cụ, phương tiện vật chất…Tác động tâm lý khác với tác động khác (kinh tế, thể xác…) chủ yếu ở “nơi”- “chỗ” mà nó tác động đến (tâm lý của người bị tác động); mục đích, hiệu quả của việc tác động: Biến đổi hiện tượng tâm lý với hành vi tương ứng phục vụ cho yêu cầu cụ thể của người gây ra tác động.
Mỗi một lĩnh vực hoạt động, tác động tâm lý mang những đặc điểm riêng.
2.2 Tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự
- Trong hoạt động điều tra hình sự phải sử dụng tác động tâm lý. Đó là tác động có mục đích, có kế hoạch, không bị pháp luật cấm của cơ quan điều tra và cán bộ điều tra đến tâm lý của những người có liên quan đến quá trình điều tra vụ án hình sự nhằm làm biến đổi hiện tượng tâm lý cụ thể nào đó của họ, từ đó dẫn tới thay đổi hành vi phục vụ cho yêu cầu của từng hoạt động điều tra cụ thể, nhưng với mục đích bao trùm là xác định sự thật khách quan.
- Nguyên tắc tác động tâm lý
“Nguyên tắc” là những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở, chỗ dựa để xem xét, làm việc (Nguyễn Như Ý, Đại từ điển Tiếng Việt. NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1999). Từ đó có thể thấy rằng, nguyên tắc là cái không thể thiếu trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người để bảo đảm cho những hoạt động đó đi đúng hướng và đạt hiệu quả. Do vậy, TTHS, với tư cách là hoạt động pháp luật của các cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định là điều tất yếu. Do vậy, hoạt động tác động tâm lý của cán bộ điều tra cũng không nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của các nguyên tắc này. Tuy nhiên, những nguyên tắc TTHS khi được vận dụng vào các quan hệ TTHS sẽ có những biểu hiện đặc thù khác nhau.
Nguyên tắc tác động tâm lý trong điều tra hình sự:
+ Tính mục đích: Tác động tâm lý làm xuất hiện hay thay đổi hiện tượng tâm lý nào của đối tượng;
+ Đáp ứng yêu cầu chính trị, pháp luật, nghiệp vụ;
+ Nguyên tắc đạo đức;
+ Phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh tác động.
3. Chủ thể của tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự
Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cán bộ điều tra là chủ thể giữ vai trò chủ đạo tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự.
Các chủ thể khác tham gia phối hợp tác động tâm lý: cán bộ trại tạm giam, đặc tình trại tạm giam, người thân hoặc người có uy tín đối với người bị tác động tâm lý, người làm chứng, người bị hại, kể cả đồng bọn của chúng.
4. Khách thể của tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự
Khách thể của tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự là người bị tạm giữ hình sự, bị can, người làm chứng, người bị hại, người tham gia đối chất, nhận dạng, người tham gia thực nghiệm điều tra.
Các phương pháp tác động tâm lý trong điều tra vụ án hình sự:
- Phương pháp thuyết phục
+ Nội dung: đó là phương pháp cán bộ điều tra dùng chính nghĩa, lẽ phải, pháp luật của nhà nước, thực tế cuộc sống, đạo đức xã hội... để tác động vào nhận thức của đối tượng giúp cho đối tượng nhận rõ đúng, sai, tin tưởng vào sự khoan hồng của pháp luật đặc biệt là vấn đề thiệt, hơn về tất cả vấn đề có liên quan tới bản thân và gia đình họ; từ đó khiến cho đối tượng hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Cần nghiên cứu kỹ đặc điểm nhân thân đối tượng, hiểu rõ động cơ đang kìm hãm hành động hợp tác làm rõ sự thật.
• Kết hợp chặt chẽ với việc sử dụng chứng cứ và sử dụng mâu thuẫn.
• Cán bộ điều tra phải có sự hiểu biết sâu rộng, có năng lực phân tích lý giải với sự công minh, khách quan, tôn trọng bao dung độ lượng với đối tượng, đàng hoàng đĩnh đạc, sẵn sàng lắng nghe và giải đáp các thông tin ngược của đối tượng.
• Có thể đáp ứng những nhu cầu cần thiết, không vi phạm vào những nguyên tắc, quy định trong điều kiện đối tượng bị giam giữ.
• Có sự tương ứng về tuổi tác.
- Phương pháp tác động tình cảm
+ Nội dung: Cán bộ điều tra tác động vào đời sống tình cảm của cá nhân để họ hợp tác làm rõ sự thật theo ba hướng:
• Lợi dụng tâm trạng và tình cảm của đối tượng: hoang mang, lo sợ khi bị bắt, bị tạm giam để tấn công buộc đối tượng phải khai báo, phải hợp tác.
• Chủ động làm thay đổi những tâm trạng, tình cảm đang là động lực kìm hãm hành động hợp tác làm rõ sự thật của đối tượng (tâm trạng bi quan, thất vọng hoặc tâm trạng bình tĩnh tự tin; sợ bị trừng phạt nặng, sợ ngồi tù lâu).
• Khơi dậy những tình cảm tích cực để làm động lực khiến họ hợp tác: Tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, tình người với nhau..
+ Yêu cầu: Phải nghiên cứu nắm được tâm trạng và tình cảm cụ thể chi phối hành vi không hợp tác của đối tượng để có hướng và biện pháp tác động phù hợp.
- Phương pháp thực nghiệm cảm xúc (phương pháp thông báo, phương pháp trao tin...)
+ Nội dung: Đó là phương pháp cán bộ điều tra dùng những thông tin có liên quan đến sự kiện phạm tội, để tác động bất ngờ tới đối tượng nhằm làm xuất hiện thay đổi trạng thái cảm xúc của đối tượng, từ đó khiến cho đối tượng phải hợp tác làm rõ sự thật; hoặc cán bộ điều tra căn cứ vào sự thay đổi hay không thay đổi trạng thái cảm xúc của đối tượng có thể kiểm tra giả thuyết của mình về những vấn đề cần quan tâm của vụ án.
+ Yêu cầu:
• Phải biết được đối tượng sợ nhất cái gì, động cơ nào đang kìm hãm hành động hợp tác làm rõ, từ đó lựa chọn thông tin có sức nặng công phá sự ổn định tâm lý của đối tượng.
• Thông tin định đưa ra phải kiểm tra kỹ độ chính xác, có giá trị chứng minh cao hành vi phạm tội của đối tượng, làm cho đối tượng không thể thờ ơ, buộc tâm lý phải rung chuyển bộc lộ cảm xúc.
• Thông tin đưa ra phải đảm bảo yếu tố bất ngờ.
• Khi trình bày thông tin bằng vật chứng thì không nên giải thích ý nghĩa hoàn cảnh thu được thông tin đó.
• Cán bộ điều tra phải nhanh nhạy nắm được sự thay đổi trạng thái cảm xúc thể hiện ra bên ngoài (mặt tái mét, tay chân run rẩy, trán toát mồ hôi, giọng nói ấp úng…) để có tác động tiếp theo phù hợp thúc đẩy nhanh sự hợp tác làm rõ sự thật.
- Phương pháp ám thị gián tiếp
+ Nội dung: Đó là việc cán bộ điều tra đưa ra các vấn đề, các sự kiện không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, nhưng nó lại gắn bó với những bí mật về đời tư quan hệ nhất là vấn đề thuộc về mặt trái của cuộc đời tác động đến đối tượng nhằm làm cho đối tượng hiểu rằng những vấn đề bí mật ấy mà cán bộ cũng biết thì những vấn đề, tình tiết của hành vi phạm tội chắc chắn cán bộ đã biết; cùng với tác động thuyết phục của cán bộ điều tra khiến cho đối tượng hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Sự kiện đưa ra phải thuộc về bí mật đời tư quan hệ, những vấn đề không có trong hồ sơ nhân sự, trong quan hệ công khai (có thể sử dụng những tiền án, tiền sự đã xảy ra lâu ở địa phương cách xa, những biệt hiệu gắn với nhân thân của y do đồng bọn đặt cho...)
• Không sử dụng thông tin sự kiện mới, hoặc đụng chạm tới tín ngưỡng.
- Phương pháp dẫn dắt sự liên tưởng trong tư duy
+ Nội dung: Đó là cán bộ điều tra đưa ra câu hỏi hoặc những câu hỏi trong hệ thống lôgíc câu hỏi sẽ đưa ra mà câu đó liên quan đến sự kiện phạm tội. Đối tượng nghe, trả lời câu đó đồng thời dự đoán câu hỏi tiếp theo phải trả lời. Từ đó dẫn tới sự đánh giá ở đối tượng: Cán bộ đã biết hết sự kiện phạm tội, không thể chối tội được nữa và phải hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Thường được sử dụng trong trường hợp cán bộ có cơ sở đặt giả thuyết về mối liên hệ giữa tình tiết vụ án với hành vi phạm tội của đối tượng, nên thông tin phải có thật hoặc có cơ sở để khẳng định có mối liên quan trên.
• Khi cán bộ điều tra đặt câu hỏi phải bình tĩnh, tỏ thái độ biết rồi nhằm thúc đẩy thái độ hợp tác làm rõ sự thật
- Phương pháp đặt câu hỏi làm biến đổi tư duy của đối tượng
+ Nội dung: Đó là việc cán bộ điều tra đặt câu hỏi khác với sự chuẩn bị trước của đối tượng, làm cho đối tượng không thể sử dụng sự chuẩn bị sẵn để đối phó; từ đó tạo nên ở đối tượng sự bất ngờ lúng túng không còn sử dụng được những tình tiết giả, buộc đối tượng phải hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Nắm hoặc dự đoán sự chuẩn bị đối phó trả lời của đối tượng
• Khi điều tra yêu cầu đối tượng trả lời ngay câu hỏi, không nên để cho đối tượng có thời gian suy nghĩ sắp đặt.
- Phương pháp đặt câu hỏi thật chi tiết xoáy sâu vào điểm đối tượng khai gian dối:
+ Nội dung: Cán bộ điều tra căn cứ vào điểm đối tượng cố tình bịa đặt để đặt nhiều câu hỏi chi tiết hỏi xoáy sâu vào vấn đề đó với tốc độ hỏi khẩn trương, yêu cầu đối tượng phải dồn dập trả lời; từ đó khiến cho đối tượng không kịp thời đối phó và nảy sinh suy nghĩ không thể lừa dối được nữa buộc đối tượng phải hợp tác làm rõ sự thật.
+ Yêu cầu:
• Lấy lời khai của đối tượng và xác định được vấn đề đối tượng khai gian dối.
• Đặt nhiều câu hỏi chi tiết xoay quanh vấn đề đối tượng khai gian dối và yêu cầu đối tượng phải trả lời ngay không chậm chễ.
• Nên sử dụng phương pháp thuyết phục khi đối tượng xuất hiện sự ngập ngừng trong quá trình trả lời câu hỏi.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê