1. Tài sản đứng tên chồng thì khi ly hôn có được chia đôi không ?

Chào luật sư, Tôi lấy chồng hơn 1 năm và có 1 bé gái được 7 tháng. Do mâu thuẫn với ba mẹ chồng và chồng không bênh tôi, lại còn la mắng tôi khi tôi đang mang thai được 3 tháng rưỡi. Ba mẹ tôi xin đưa tôi về để dưỡng thai. Anh nghe lời ba mẹ nên hay nhắn tin la rầy trách móc tôi. Nay tôi muốn ly hôn khi con tôi được 7 tháng.

Tài sản chúng tôi có được sau khi kết hôn là chiếc xe ben của chú út anh sang nhượng lại. Bao nhiêu vàng cưới tôi bán hết để lấy xe về cho anh chạy. Xe sang tên cho mỗi mình anh đứng. Chỉ có giấy viết tay. Chưa sang hẳn tên trên giấy tờ xe. Vậy khi ly hôn cái xe đó tính sao ạ ?

Mong luật sư tư vấn dùm tôi. Cảm ơn luật sư.

Tài sản đứng tên chồng thì khi ly hôn có được chia đôi không ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân về chia tài sản trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Tài sản mà bạn đề cập đến là tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân, cho nên đó được coi là tài sản chung của vợ chồng, theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Về nguyên tắc khi ly hôn thì tài sản chung sẽ được phân chia theo thỏa thuận của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận, việc chia tài sản không phụ thuộc vào vấn đề ai đứng tên trên giấy tờ sở hữu tài sản mà sẽ căn cứ vào các yếu tố sau:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

2. Quyền thăm nôm con sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Hùng và Ái là vợ chồng đã ly hôn vơi nhau, hai người có một con chung là Ngọc 6 tuổi được giao cho Ái nuôi dưỡng. Hùng tự nguyện cấp dưỡng hàng tháng cho con gái mỗi tháng 1 triệu đồng. Sau khi ly hôn Ái đem con về sống với mẹ ruột của mình là bà Năm.
Bà Năm và Ái thường xuyên cản trở không cho Hùng viếng thăm con gái của mình vì cho rằng Hùng đã ly hôn, phán quyết của Tòa án giao bé Ngọc cho Ái nuôi dưỡng nên Ái có quyền cho Hùng gặp hoặc không gặp bé Ngọc. Như vậy có phù hợp hay không ? Anh Hùng có thể khởi kiện giành quyền nuôi bé Ngọc không ?
Cảm ơn luật sư!

Quyền thăm nôm con sau khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vậy nếu chị Ái và mẹ chị Ái thường xuyên cản trở không cho anh Hùng được thăm con gái của anh là vi phạm pháp luật. Anh Hùng cũng có thiện ý trong việc ghé thăm bé Ngọc và hàng tháng vẫn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho bé Ngọc tức là anh Hùng vẫn cố gắng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ người cha nhưng những quyền và nghĩa vụ này đang bị chị Ái và mẹ chị Ái cản trở.

Để bảo vệ quyền lợi của mình anh có thể khởi kiện chị Ái và mẹ chị Ái ra Tòa vì những hành vi cản trở không cho anh thăm nom bé Ngọc của họ. Ngoài ra chị Ái và mẹ chị Ái nói rằng "Tòa đã xử ai nuôi con thì người đó được nuôi hoài dù có xảy ra gì đi chăng nữa", điều này không đúng bởi Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định:

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

Dựa vào quy định của pháp luật thì rõ ràng anh Hùng vẫn có thể làm đơn khởi kiện ra Tòa án để xin Tòa án cho anh được quyền nuôi bé Ngọc, dù trước đó là Tòa án xử cho chị Ái được quyền nuôi con, tất nhiên anh Hùng phải chứng minh được anh có thể chăm sóc và nuôi dưỡng bé Ngọc tốt hơn chị Ái.

3. Những vướng mắc khi ly hôn với người mất tích ?

Có một thực trạng khá phổ biến trong quan hệ hôn nhân hiện nay, đó là khi xảy ra tình trạng “cơm không lành, canh không ngọt”, một bên vợ hoặc chồng thường bỏ đi mất tích. Để chấm dứt quan hệ hôn nhân, người có yêu cầu ly hôn với người mất tích phải khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết. Quy định như vậy, nhưng trên thực tế, khi giải quyết việc ly hôn với người mất tích lại phát sinh vướng mắc.

Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự quy định về việc tuyên bố một người mất tích.

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích...

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Thực tiễn giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Gần 20 năm không thể ly hôn

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trước đây, theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, để ly hôn với người mất tích, trước hết phải thực hiện thủ tục tuyên bố người đó mất tích, sau đó giải quyết việc ly hôn trong cùng một vụ án. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: Khi nhận được đơn khởi kiện của đương sự, Tòa án yêu cầu đương sự đến cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của tỉnh và trung ương nhắn tin tìm người vắng mặt và lấy giấy xác nhận của cơ quan đó về việc đã nhắn tin tìm người vắng mặt nộp cho Tòa án để Tòa án thụ lý vụ án. Tòa án cũng có quyền yêu cầu người khởi kiện nộp tiền tạm ứng cho việc thông báo tìm người vắng mặt trên báo chí, đài phát thanh, đài vô tuyến truyền hình của tỉnh và Trung ương để Tòa án thụ lý vụ án và thông báo tìm người vắng mặt. Người khởi kiện phải chịu phí tổn về việc thông báo tìm người vắng mặt.

Hiện nay, theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu tuyên bố mất tích là việc dân sự, còn ly hôn lại là vụ án dân sự (trừ trường hợp thuận tình ly hôn được coi là việc dân sự). Nếu đương sự vừa có yêu cầu tuyên bố một người mất tích vừa có yêu cầu xin ly hôn thì phải yêu cầu để Tòa án giải quyết việc tuyên bố mất tích trước, sau đó mới giải quyết yêu cầu xin ly hôn. Theo quy định hiện hành, thông báo tìm người vắng mặt tại nơi cư trú phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong 3 số liên tiếp và phát sóng trên Đài Phát thanh hoặc Đài Truyền hình của Trung ương 3 lần trong 3 ngày liên tiếp. Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do người yêu cầu chịu.

Quy định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú là cần thiết để Tòa án có cơ sở giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc giải quyết vụ án ly hôn đối với họ. Tuy nhiên, vướng mắc phát sinh từ quy định này là chi phí để thực hiện việc thông báo, nhắn tin không nhỏ, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Thời gian qua, Nhà nước đã có chế độ, chính sách hỗ trợ những đối tượng gặp khó khăn như: trợ giúp pháp lý miễn phí, miễn, giảm tiền án phí dân sự, góp phần tạo sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia tố tụng bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, đối với các chi phí khác như giám định, nhắn tin đến nay chưa có quy định miễn, giảm. Bởi vậy, không ít trường hợp do không đủ điều kiện để thực hiện việc thông báo theo quy định của pháp luật, đương sự đã phải rút đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Do đó, Tòa án cũng không đủ cơ sở để giải quyết yêu cầu xin ly hôn của người đó.

Để giúp công dân giải quyết sự ràng buộc về quan hệ hôn nhân một cách hợp pháp, cần có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho những đối tượng có hoàn cảnh thực sự khó khăn, mở cho họ hướng đi trong trường hợp nhất thiết phải ly hôn với người mất tích.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng!

Công ty luật Minh Khuê