1. Quan điểm doanh nghiệp không phải gánh vác trách nhiệm đối với xã hội

Quan điểm này được giải thích như sau: nhiệm vụ của doanh nghiệp chỉ là kiếm lợi nhuận một cách tối đa và hợp pháp. Bảo vệ và khuyến khích quyền con người tồn tại trong lợi ích chính trị của nhà nước. Vì vậy, nhà nước chứ không phải doanh nghiệp là người có nghĩa vụ chăm lo quyền con người. Cùng với đó quyền con người trở thành một phần của sự điều chỉnh pháp luật. Tuân thủ quyền con người được đòi hỏi trước hết đối với nhà nước và ở đó nhà nước ràng buộc vào pháp luật do mình định ra hoặc vào các thỏa thuận quốc tế mà nhà nước cam kết. Trong hoạt động của mình, doanh nghiệp chủ yếu có trách nhiệm đối với đối tác, với khách hàng (chẳng hạn, khi vi phạm quan hệ nghĩa vụ), với cổ đông và với người lao động bên trong doanh nghiệp.

Trong quan hệ với nhà nước và xã hội, việc doanh nghiệp tuân thủ pháp luật, trong đó có nghĩa vụ nộp thuế, tạo việc làm đã là biểu hiện của trách nhiệm xã hội. Những nghĩa vụ và trách nhiệm liên quan đến doanh nghiệp trong việc phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục những hậu quả và tác động tiêu cực từ hoạt động của doanh nghiệp thường đã được quy định trong pháp luật của quốc gia. Do đó, đòi hỏi thêm trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội có lẽ là yêu cầu không hợp lý. Trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc giao trách nhiệm cho doanh nghiệp thậm chí có thể xem là rào cản phi kỹ thuật của quốc gia trong hoạt động thương mại.

2. Quan điểm doanh nghiệp phải có trách nhiệm đối với quyền con người

Trái với quan điểm trên, những người ủng hộ yêu cầu doanh nghiệp có trách nhiệm đối với quyền con người biện luận rằng, hành động của doanh nghiệp có thể tác động tiêu cực đến quyền con người nên doanh nghiệp phải có trách nhiệm đối với quyền con người. Đồng thdi, những người khuyến khích trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn cho rằng, những thách thức về sinh thái, xã hội và kinh tế của thời đại ngày nay chỉ có thể đối phó bằng các giải pháp và hành động chung của các chủ nhân của xã hội, trong đó có doanh nghiệp. Một trong những yếu tố tạo ra sự tương tác giữa chính trị, Kinh tế - Xã hội dân sự trong việc giải quyết các thách thức của thời đại ngày nay là tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp.

Trong khi từng quốc gia có trách nhiệm chính là phải hiện thực hóa các quyền con người của công dân của họ, thì các quốc gia khác và các chủ thể phi nhà nước, trong đó có doanh nghiệp, cũng có nghĩa vụ phải góp phần và hỗ trợ quá trình này. Hơn nữa, tôn trọng quyền con người thuộc về văn hoá đạo đức tối thiểu của các xã hội văn minh. Các xã hội hiện đại là các hệ thống hoàn chỉnh của sự cùng tồn tại của nhiều chủ thể (cá nhân, nhóm, tổ chức) mà lợi ích và mục tiêu hành động của chúng tuy khác nhau nhưng phụ thuộc lẫn nhau và đan bện vối nhau. Đổ đạt được mục đích chung như khuyến khích sự thịnh vượng qua sự chú ý quyền con người cũng như để đạt được những điều kiện khung cho sự phát triển kinh tế bền vững, công bằng xã hội và đảm bảo nhu cầu cơ bản của những người yếu thế trong xã hội thì tất cả những chủ nhân của xã hội cần phải sử dụng nguồn lực và khả năng của mình đóng góp cho lợi ích chung của xã hội.

3. Doanh nghiệp và quyền con người

Trách nhiệm đối vối quyền con người được xem như một phương diện cần chú ý trong sự đóng góp của doanh nghiệp đối với xã hội. Trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với con người doanh nghiệp đóng vai trò hỗ trợ và tạo điều kiện cho con người thực hiện ở mức độ cao nhất quyền con người cũng như mở rộng quyền của họ. Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người đòi hỏi mỗi cá nhân và tất cả các tổ chức của xã hội và cùng với đó là cả những chủ thể kinh tế đóng góp vào việc thực thi quyền con người.

Trong báo cáo của mình được đệ trình vào tháng 4/2008, đại diện đặc biệt của Liên hợp quốc, ông John Ruggie đã đưa ra quan điểm về “quyền con người và doanh nghiệp” gắn với ba nguyên tắc “bảo vệ, tôn trọng và khắc phục - Protect, Respect and Remedy”. Theo đó, bảo vệ là nhiệm vụ của nhà nước. Trong giới hạn quyền lực của mình, nhà nước bảo vệ công dân và cá nhân trước những vi phạm quyền con người của các chủ thể khác (ngoài nhà nước). Đồng thời chính bản thân nhà nước cũng phải tôn trọng quyền con người và ràng buộc mình vào pháp luật về quyền con người. Nhà nước tổ chức các hình thức khiếu kiện, khiếu nại trong và ngoài pháp lý để phòng ngừa và giải quyết các vi phạm quyền con người.

Theo tư tưởng của luận điểm Protect, Respect and Remedy nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ quyền con người (protect) và đảm bảo sự tuân thủ quyền con người. Doanh nghiệp có trách nhiệm tôn trọng quyền con người (respect) và cuối cùng là nhà nước có nghĩa vụ cung cấp các phương tiện pháp luật có hiệu quả (remedy) để công dân bảo vệ quyền của mình khi quyền của họ bị xâm phạm, ở đây trách nhiệm tôn trọng quyền con người của doanh nghiệp không chỉ bao gồm nghĩa vụ phó mặc mà cả nghĩa vụ hành động; chẳng hạn như tổ chức và duy trì bộ máy, phân tích, kiểm soát các ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của hành động của doanh nghiệp đối vối quyền con người, can thiệp trong những trường hợp cần thiết để ngăn cản hoặc đình chỉ các hành vi vi phạm quyền con người.

4. Vì sao doanh nghiệp cần quan tâm đến vấn đề quyền con người?

Quyền con người đã trở thành giá trị chung của nhân loại, đòi hỏi mọi thiết chế, tổ chức trong xã hội, trong đó có doanh nghiệp, phải có nghĩa vụ đảm bảo. Trước đây, quyền con người và doanh nghiệp thường được coi là hai lãnh địa hoàn toàn khác biệt nhau cả về bản chất, phạm vi và cách tiếp cận. Đây là quan niệm truyền thống, cho rằng nhà nước là chủ thể chịu trách nhiệm duy nhất trong việc đảm bảo quyền của các cá nhân. Ngày nay, mặc dù quốc gia vẫn là chủ thể chính có nghĩa vụ đảm bảo quyền con người, nhưng sự tham gia của các chủ thể phi nhà nước như các doanh nghiệp, tập đoàn vào các quan hệ về quyền con người ngày càng nhiều hơn. Có thể nói, mối quan hệ giữa quyền con người và doanh nghiệp được coi là mối quan hệ hai bên cùng có lợi (win-win). Nhiều doanh nghiệp lo ngại rằng tham gia thực hiện nghĩa vụ quyền con người sẽ làm gia tăng chi phí, giảm lợi nhuận.

Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp không thực hiện tốt cam kết về nhân quyền, gây nên các vi phạm, lạm dụng quyền thì sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận, thậm chí là gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp, nhất là trong trường hợp có liên quan đến kiện tụng hoặc đình công. Chẳng hạn tập đoàn Shell đã phải chi 15,5 triệu USD để giải quyết vụ kiện ở Nigeria liên quan đến các vi phạm quyền về môi trường ở đây. Hơn thế nữa, đưa trách nhiệm quyền con người vào hoạt động kinh doanh cũng sẽ góp phần tạo ra sự phát triển bền vững cho doanh nghiệp thông qua việc nâng cao hình ảnh, cải thiện quan hệ giữa doanh nghiệp với người lao động và các bên liên quan, đặc biệt là với người tiêu dùng. Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp trên thế giới đang đi theo hướng tiếp cận này. Theo số liệu của Trung tâm Dữ liệu về Kinh doanh và Quyền con người thì hiện nay đã có hàng trăm tập đoàn xuyên quốc gia ban hành chính sách riêng về quyền con người.

5. Doanh nghiệp tác động như thế nào đến quyền con người?

Hoạt động của doanh nghiệp có thể gây nên nhiều tác động tích cực và tiêu cực về nhân quyền. Tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp, từng lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và bối cảnh quốc gia, địa phương mà mức độ, hình thức tác động sẽ khác nhau. Hoạt động đóng thuế của doanh nghiệp sẽ góp phần làm tăng ngân sách nhà nước, nhờ đó đóng góp vào các chương trình phát triển xã hội, trong đó có vấn đề nhân quyền.

Doanh nghiệp có thể trực tiếp góp phần thúc đẩy thực hiện quyền con người như quyền về việc làm, quyền có mức sống thỏa đáng, quyền về nhà ở, quyền giáo dục, quyền chăm sóc sức khỏe, v.v... Thậm chí, trong nhiều trường hợp, các tập đoàn này còn có ảnh hưởng tích cực đến quyền lực chính trị, pháp lý cả ở cấp độ quốc tế và quốc gia.1 Doanh nghiệp cũng là chủ thể có khả năng gây ra nhiều tác động tiêu cực về nhân quyền ở các hình thức, mức độ khác nhau. Trong một nghiên cứu về phạm vi và mức độ vi phạm quyền con người của doanh nghiệp, tác giả Michael Wright cho rằng tình trạng doanh nghiệp vi phạm quyền con người xảy ra ở nhiều ngành nghề và ở tất cả các cộng đồng, khu vực khác nhau. Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể vi phạm quyền con người do sử dụng lao động trẻ em, phân biệt đối xử với một số nhóm người lao động nhất định (như phụ nữ, người thuộc về một nhóm dân tộc, địa phương nào đó), không đảm bảo điều kiện lao động lành mạnh, an toàn, công bằng và đầy đủ, không tôn trọng tính độc lập của tổ chức công đoàn, không khuyến khích quyền được thương lượng tập thể của người lao động, v.v…

Doanh nghiệp cũng có thể bị coi là góp phần gây nên những vi phạm nhân quyền xảy ra trong mạng lưới các chi nhánh và chuỗi cung ứng hoặc bạn hàng của mình, đặc biệt với những doanh nghiệp có quy mô hoạt động trên toàn cầu. Một số ngành công nghiệp hay lĩnh vực kinh doanh như may mặc, giầy da, khai khoáng thường có nguy cơ vi phạm quyền con người cao hơn

Ví dụ:

Nhiều tập đoàn lớn trong lĩnh vực giày da, như Nike, Adidas, Reebok, Gap, đều đã từng bị chỉ trích về tình trạng vi phạm quyền của người lao động. Chẳng hạn, Nike từng bị chỉ trích dữ dội hơn 10 năm trước vì sử dụng lao động trẻ em và trả tiền lương rẻ mạt cho công nhân, trong khi họ bán giày hàng hiệu với giá từ vài chục đến hàng trăm USD/đôi. Càng đáng chê trách hơn khi hãng này trả công cho những ngôi sao thể thao đại diện cho sản phẩm như Tiger Woods hàng trăm triệu USD cho một hợp đồng quảng cáo, và số tiền này còn có thể tăng lên phụ thuộc vào doanh số bán hàng.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)