- 1.Các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân
- 2.Việc xác định tài sản chung và quyền, nghĩa vụ đối với tài sản
- 3. Hợp đồng bảo đảm liên quan đến tổ chức khác
- 4. Quy định về xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm bằng tài sản chung của vợ chồng
- 5. Quy định về thay đổi bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm
1.Các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch bảo đảm với các chủ thể là thương nhân mà không phải là pháp nhân; văn phòng luật sư; nhà hộ sinh, phòng khám đa khoa; công đoàn cơ sở; hộ gia đình sử dụng đất, cộng đồng dân cư; hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân; hộ gia đình, tổ hợp tác; cơ sở tôn giáo (gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, tu viện, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo) và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được xác định như sau:
Quy định về các cá nhân là thành viên của các tổ chức không có tư cách pháp nhân nêu trên là chủ thể tham gia hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự;
Quy định về việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên tham gia quan hệ dân sự biết;
Đới với trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủy quyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể của quan hệ dân sự do mình xác lập, thực hiện.
2.Việc xác định tài sản chung và quyền, nghĩa vụ đối với tài sản
Việc xác định tài sản chung và quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này của các thành viên tổ hợp tác, được thực hiện theo các quy định sau đây:
Tài sản do các thành viên đóng góp, cùng tạo lập và tài sản khác theo quy định của pháp luật là tài sản chung theo phần của các thành viên hợp tác;
Việc cầm cố, thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, nhà, xưỏng sản xuất, tư liệu sản xuất khác phải có thỏa thuận bằng văn bản của tất cả các thành viên; việc ký quỹ, cầm cố, thế chấp tài sản khác do đại diện của các thành viên quyết định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Hợp đồng bảo đảm liên quan đến tổ chức khác
Ngoài việc tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của cá nhân hoặc pháp nhân, thì còn có một số trường hợp tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của tổ chức không có tư cách pháp nhân như hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.
Trong khi đó, chủ thể ký hợp đồng bảo đảm chỉ có thể là pháp nhân hoặc cá nhân theo quy định của Bộ luật Dận sự năm 2015. Như vậy, không còn các chủ thể là tổ hợp tác, hộ gia đình, hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân như quy định của hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và 2005 trước đây.
Việc xác định tài sản chung và quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung của các thành viên tổ hợp tác, hộ gia dinh, hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được xác định theo thỏa thuận của các thành viên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Vì vậy, khi giao dịch bảo đảm mà tài sản bảo đảm của tổ hợp tác (theo Luật Việc làm năm 2013), hộ gia đình (theo Luật Đất đai năm 2013), hộ kinh doanh (theo Luật Doanh nghiệp năm 2020) và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, thì phải giao kết hợp đồng bảo đảm vổĩ các cá nhân là một hoặc các thành viên của tổ hợp tác, hộ kinh doanh hoặc của tổ chức khác.
Bên cạnh đó, có một vấn đề pháp lý đặc biệt quan trọng mới phát sinh theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, nhưng chưa được xác định rõ ràng. Đó là cách ghi nhận thế nào đốì với các tổ chức không có tư cách pháp nhân trên hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo đảm nói riêng. Các chủ thể này đang tồn tại trên thực tế và dựa trên những quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng, đang có hiệu lực. Vì vậy, nếu bỏ hẳn, không nhắc đến các chủ thể này trong các hợp đồng là điều không hợp lý.
Cách hợp lý nhất là tiếp tục ghi nhận các chủ thể trong hợp đồng giống như giao dịch với tập đoàn kinh tế, tổng công ty hay chi nhánh của doanh nghiệp.
Thời điểm khi giao dịch bảo đảm với tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước thì thực chất là giao dịch với pháp nhân là công ty mẹ (có thể được gọi tên không chính xác là tập đoàn, tổng công ty) theo quy định sau: tập đoàn kinh tế, tổng công ty không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020.
Chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện và các đơn vị khác phụ thuộc pháp nhân (có thể tên gọi như nhà máy, xí nghiệp, cửa hàng, trung tâm), chỉ là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp và đương nhiên không có tư cách pháp nhân, nhưng vẫn được phép tham gia giao dịch, ký hợp đồng vì có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Thậm chí còn có thể chỉ ghi tên chi nhánh mà không kèm theo công ty vẫn được chấp nhận. Điển hình cho việc này có thể kể đến là các chi nhánh của doanh nghiệp nưốc ngoài ỏ Việt Nam.
Khi giao dịch bảo đảm với chi nhánh của doanh nghiệp, bản chất là giao dịch với pháp nhân thông qua các đơn vị phụ thuộc đó (không phải là giao dịch với cá nhân). Chỉ có cách thức ghi khác nhau là Công ty A - Chi nhánh B hay ghi ngược lại Chi nhánh B - Công ty A.
Vì vậy, hợp đồng bảo đảm vẫn nên ghi chủ thể là doanh nghiệp tư nhân, văn phòng luật sư, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, V.V., nhưng cần phải xác định rõ bản chất pháp lý là giao dịch với một hoặc một số cá nhân, chứ không phải với pháp nhân hay một tổ chức không có tư cách pháp nhân. Hay nói một cách khác, trong trường hợp này việc ghi tên các chủ thể là tổ chức không có tư cách pháp nhân trong hợp đồng có thể coi như cách gọi tên là bên mua, bên bán hay bên A, bên B.
4. Quy định về xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm bằng tài sản chung của vợ chồng
1. Trường hợp dùng tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là số dư tiền gửi tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, chứng khoán hoặc động sản khác theo quy định của pháp luật không phải đăng ký thì vợ hoặc chồng đứng tên người gửi tiền, chứng khoán hoặc đang chiếm hữu động sản được tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm, trừ trường hợp sau đây:
- Chế độ tài sản theo thỏa thuận có quy định khác hoặc vợ chồng có thỏa thuận khác và bên nhận bảo đảm đã được cung cấp thông tin về quy định này hoặc về thỏa thuận này;
- Vợ chồng và bên nhận bảo đảm có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp vợ chồng thỏa thuận về việc một bên dùng tài sản chung để góp vốn vào pháp nhân thương mại, pháp nhân phi thương mại là doanh nghiệp xã hội hoặc để thành lập doanh nghiệp tư nhân thì người góp vốn, người đứng tên chủ doanh nghiệp tư nhân được tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm liên quan đến phần vốn góp trong pháp nhân, tài sản thuộc doanh nghiệp tư nhân.
Trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận bằng văn bản về việc dùng tài sản chung để góp vốn theo quy định tại khoản này nhưng việc góp vốn đã được thực hiện theo đúng thủ tục được quy định trong pháp luật liên quan mà người không trực tiếp kinh doanh biết hoặc phải biết về việc góp vốn nhưng không phản đối thì coi như đã có thỏa thuận.
3. Trường hợp hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm được xác lập theo quy định nêu trên (mục 1 và mục 2 nêu trên) mà vợ chồng ly hôn thì người đã xác lập hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm đã được xác lập, trừ trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyết định khác.
5. Quy định về thay đổi bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm
- Bên mua, bên nhận chuyển nhượng hoặc bên nhận chuyển giao khác về quyền sở hữu trở thành bên nhận bảo đảm trong trường hợp quyền đòi nợ, khoản phải thu, quyền yêu cầu thanh toán khác có biện pháp bảo đảm được bán, được chuyển nhượng hoặc được chuyển giao khác về quyền sở hữu.
Bên nhận bảo đảm mới phải thông báo cho bên bảo đảm để biết về việc thay đổi bên nhận bảo đảm trước khi nghĩa vụ được bảo đảm được thực hiện theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
- Bên kế thừa trở thành bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm hoặc người có nghĩa vụ được bảo đảm trong trường hợp bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm hoặc người có nghĩa vụ được bảo đảm là pháp nhân được tổ chức lại.
- Việc bán, chuyển nhượng hoặc chuyển giao khác về quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều này và quy định khác liên quan về chuyển giao quyền yêu cầu có biện pháp bảo đảm, chuyển giao nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm không phải xác lập lại hợp đồng bảo đảm.
Quy định về quan hệ giữa hợp đồng bảo đảm với hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm
1. Hợp đồng bảo đảm bị vô hiệu hoặc bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm.
2. Trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu hoặc bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì giải quyết như sau:
- Các bên chưa thực hiện hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì hợp đồng bảo đảm chấm dứt;
- Các bên đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì hợp đồng bảo đảm không chấm dứt. Bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ đối với mình.
Quy định về bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản được tạo lập từ quyền bề mặt, quyền hưởng dụng
- Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất theo quy định thì hợp đồng thế chấp vẫn còn hiệu lực, biện pháp thế chấp vẫn còn hiệu lực đối kháng với người thứ ba khi tài sản gắn liền với đất hoặc quyền sử dụng đất không phải là tài sản bảo đảm được mua bán, được chuyển nhượng, được chuyển giao khác về quyền sở hữu hoặc được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
- Hiệu lực của hợp đồng bảo đảm, hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm bằng tài sản được tạo lập từ quyền bề mặt, quyền hưởng dụng với người thứ ba không thay đổi hoặc không chấm dứt trong trường hợp quyền sử dụng đất có quyền bề mặt, tài sản là đối tượng của quyền hưởng dụng được mua bán, được chuyển nhượng, được chuyển giao khác về quyền sở hữu hoặc được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.