Công ty X cho anh B về nước trước thời hạn vì lý do anh thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng. Vậy anh B có thể gửi đơn kiện đến tòa án nào để yêu cầu giải quyết tranh chấp? Tôi xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi:  1900.6162

Trả lời: Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Nội dung phân tích

1. Về nội dung hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao gồm các nội dung sau đây:

- Ký kết các hợp đồng liên quan đến việc người lao động đi làm việc ở nước ngoài;

- Tuyển chọn lao động;

- Dạy nghề, ngoại ngữ cho người lao động; tổ chức bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài;

- Thực hiện Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài;

- Quản lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài;

- Thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài;

- Thanh lý hợp đồng giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và người lao động đi làm việc ở nước ngoài;

- Các hoạt động khác của tổ chức, cá nhân có liên quan đến người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

2. Giải quyết tranh chấp

Tranh chấp trong xuất khẩu lao động là một loại tranh chấp khá phức tạp. Sự phức tạp của các tranh chấp này thể hiện ở chỗ: Quan hệ tranh chấp có liên quan đến nhiều bên, gồm bên sử dụng lao động nước ngoài, bên doanh nghiệp cung ứng lao động của Việt Nam và người lao động Việt Nam và trong các mối quan hệ khác nhau như quan hệ về cung ứng lao động giữa doanh nghiệp chuyên doanh XKLĐ Việt Nam với đơn vị sử dụng lao động nước ngoài, quan hệ (dịch vụ) về đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài giữa người lao động Việt Nam với doanh nghiệp XKLĐ Việt nam, quan hệ về sử dụng lao động giữa người lao động Việt nam với người sử dụng lao động nước ngoài.

Với mối quan hệ phức tạp giữa các chủ thể trong quan hệ xuất khẩu lao động, đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần phải đưa ra nguyên tắc giải quyết tranh chấp, pháp luật giải quyết tranh chấp khi có tranh chấp xảy ra nhằm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tạo nên một thị trường XKLĐ hữu nghị, hợp tác, hai bên cùng có lợi.

Theo quy định tại điều 73 của Luật đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài lao động quy định như sau

“1. Tranh chấp giữa người lao động và doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được giải quyết trên cơ sở hợp đồng ký giữa các bên và quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động nước ngoài được giải quyết trên cơ sở thỏa thuận đã ký giữa các bên và quy định pháp luật của nước tiếp nhận người lao động, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thoả thuận quốc tế mà bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ký với bên nước ngoài.”

Anh B có thể gửi đơn khởi kiện đến tòa án nhân dân cấp tỉnh để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Công ty X (Nhật Bản) cho anh B về nước trước thời hạn vì lý do anh thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng. Cho rằng việc mình bị về nước trước thời hạn là không đúng nên anh B đã làm đơn khởi kiện ra tòa án. Đây sẽ là tranh chấp giữa anh B và công ty X theo Điều 73 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài năm 2006 về giải quyết tranh chấp:

2.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp

- Thương lượng trực tiếp và tự dàn xếp giữa các bên tranh chấp một cách khách quan và kịp thời.

- Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng các quyền và lợi ích của các bên, tôn trọng lợi ích chung của xã hội tuân theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước sở tại.

- Doanh nghiệp có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động XKLĐ của doanh nghiệp mình. Trường hợp tranh chấp phức tạp, ảnh hưởng đến quan hệ lao động giữa hai nước phải báo cáo kịp thời, đầy đủ và trình phương án giải quyết với cơ quan quản lý doanh nghiệp và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội..

2.2 Pháp luật giải quyết tranh chấp

- Tranh chấp giữa người lao động Việt nam và doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài đã ký giữa hai bên và qui định của pháp luật Việt Nam.

- Tranh chấp giữa người lao dộng Việt Nam và người sử dụng lao động ở nước ngoài được giải quyết  trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa hai bên và qui định của pháp luật nước nhận lao động.

- Tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài không trực tiếp sử dụng lao động được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký giữa hai bên.

- Trường hợp hợp đồng không qui định pháp luật áp dụng thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động. Tranh chấp giữa doanh nghiệp Việt nam và người sử dụng lao động nước ngoài được giải qyết trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa hai bên (nếu có), hợp đồng khác có liên  quan. Trường hợp hợp đồng không qui định pháp luật áp dụng thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động.

- Tranh chấp hợp đồng liên quan đến nhiều bên được giải quyết tuân theo pháp luật do các bên thoả thuận, lựa chọn : Nếu không thoả thuận được thì áp dụng pháp luật nước nhận lao động.

2.3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

Theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật lao động năm 2019 quy định như sau

Điều 187. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân bao gồm:
1. Hòa giải viên lao động;
2. Hội đồng trọng tài lao động;
3. Tòa án nhân dân.

Những tranh chấp về xuất khẩu lao động liên quan đến pháp luật Việt nam được giải quyết theo hướng dẫn liên tịch của Bộ Tư pháp, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Viện Kiểm soát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao.

3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo 

- Khiếu nại của người lao động, doanh nghiệp hoạt động XKLĐ do cục trưởng Cục Quản lý Lao động nước ngoài thuộc Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xem xét, kết luận và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội biện pháp giải quyết, tố cáo về XKLĐ do Thứ trưởng cơ quan thanh tra thuộc Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội xem xét, kết luận và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội biện pháp giải quyết.

- Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại tố cáo thì người lao động, doanh nghiệp hoạt động XKLĐ có quyền khiếu nại với Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hoặc khởi kiện ra toà hành chính theo qui định của pháp luật.

 Khi có tranh chấp xảy ra thì các cơ quan chức năng lúng túng và bị động trong khâu giải quyết. Nhiều vụ khiếu nại, tố cáo (về việc sử dụng lao động nước ngoài vi phạm nghiêm trọng quyền lợi, nhân phẩm người lao động, về tiền đặt cọc, bồi thường…) không được giải quyết triệt để làm cho người lao động và gia đình họ bị thiệt hại nặng nề về kinh tế, nguyên nhân là do chúng ta chưa có cơ chế giải quyết tranh chấp rõ ràng và hợp lý.

4. Khởi kiện tranh chấp theo pháp luật tố tụng dân sự

Theo điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

2. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;

c) Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31 của Bộ luật này;

d) Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của Bộ luật này.

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này, trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;

b) Yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 27, 29, 31 và 33 của Bộ luật này, trừ những yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 35 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 3 Điều 35 của Bộ luật này.

Như vậy, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động có yếu tố nước ngoài. Anh B có thể làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi gia đình anh đang cư trú để yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nếu anh B đã nhiều lần vi phạm kỷ luật đối với công ty bên Nhật và công ty đã ra thông báo đúng theo quy định của pháp luật không tiếp nhận anh nữa ( thanh lý hợp đồng làm việc) và trả chi phí về nước cho anh, công ty bên Nhật hoàn toàn có thể sử dụng tiền ký quỹ để bù đắp thiệt hại nếu phát sinh do lỗi của anh B. Tuy nhiên sau khi bù đắp nếu còn dư thừa thì công ty bên Nhật phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho anh B khi thanh lý hợp đồng. Nếu công ty X đã đơn phương chấm dứt hợp đồng với anh B do anh thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng theo đúng nội quy công ty, quy định pháp luật thì anh B không có quyền khởi kiện công ty X nữa.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.