1. Khái niệm "đánh giá tác động môi trường"

Tổ chức quốc tế về đánh giá tác động môi trường (IAIA) đưa ra định nghĩa: "Đánh giá tác động môi trường gồm công việc như xác định, dự đoán, đánh giá và giảm thiểu các ảnh hưởng của việc phát triển dự án đến các yếu tố sinh học, xã hội và các yếu tố liên quan khác trước khi đưa ra quyết định quan trọng và thực hiện những cam kết". Hay tại khoản 7 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 định nghĩa: "Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, nhận dạng, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư và đưa ra biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường". Mục đích của đánh giá tác động môi trường chính là để đưa ra các biện pháp, giải pháp phù hợp và kịp thời nhằm bảo vệ môi trường khi tiến hành triển khai dự án. Việc đánh giá tác động môi trường cho dự án được thực hiện trong giai đoạn chuẩn bị dự án. Chủ dự án tự lập hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường cho dự án đầu tư của mình và phải được sự phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền.

Đánh giá tác động môi trường còn là công cụ quản lý môi trường với thuộc tính ngừa, giúp chọn phương án thấp để khi dự án được triển khai có thể hạn chế đến mức tối đa, tác động không tốt đến môi trường. Ngoài ra nó còn giúp nhà quản lý tăng chất lượng của việc đưa ra quyết định. Nguyên tắc 17 của Tuyên bố Rio de Janeiro của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992 khẳng định rằng: “Đánh giá tác động môi trường, là một công cụ quốc gia, được thực hiện đối với những hoạt động được đề xuất có khả năng gây ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường và thuộc thẩm quyền quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.

Việc tiến hành đánh giá tác động môi trường không phải để cản trở sự phát triển kinh tế cũng như không được coi là phương tiện chính để bảo vệ môi trường tự nhiên không bị xáo trộn mà để cảnh báo người ra quyết định, các cơ quan quản lý và cộng đồng về những tác động đến môi trường của các dự án; từ đó sửa đổi, bổ sung các dự án đó sao cho giảm thiểu được những sai sót trong quá trình thực hiện dự án tránh gây ra thiệt hại nặng nề cho kinh tế cũng như ngăn chặn sự suy thoái môi trường.

2. Khái niệm "tham vấn cộng đồng"

Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về “tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường”. “Tham vấn” là hỏi hoặc đưa ra ý kiến để tham khảo, thường về vấn đề có tính chất chuyên môn (Hoàng Phê (2013), Từ điển Tiếng Việt (In lần thứ 5), Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng, trang 1174). Tham vấn là quá trình trao đổi, chia sẻ, hỗ trợ giúp người cần tham vấn hiểu rõ bản chất vấn đề, nắm vững những cách giải quyết và đưa ra phương án giải quyết tối ưu. “Cộng đồng” là toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội (Hoàng Phê (2013), Từ điển Tiếng Việt (In lần thứ 5), Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng, trang 289). Theo Công ước về tiếp cận thông tin, tham gia công tại Quyết định và tiếp cận công lý trong vấn đề môi trường năm 1998 (Công ước Aarhus năm 1998) công nhận tham gia cộng đồng giúp cải thiện việc ra quyết định, cải thiện chất lượng và thực thi các quyết định. Công ước Aarhus năm 1998 có quy định một số định nghĩa như sau: “Công chúng” là một hay nhiều người hoặc cá nhân hợp pháp, và phù hợp với luật phát và thực hành quốc gia, hiệp hội, tổ chức hay nhóm của những người này; “Công chúng có quan tâm” là những người bị ảnh hưởng hoặc có khả năng bị ảnh hưởng, hoặc có quan tâm đến việc ra quyết định về môi trường. Cho nên, cộng đồng là các bên liên quan, là các cá nhân và tổ chức bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một dự án hoặc một quyết định, cũng như những người có khả năng ảnh hưởng đến quyết định, cả tích cực và tiêu cực hay cũng có thể họ chỉ là những người quan tâm đến dự án.

Tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường là hoạt động của chủ dự án, theo đó chủ dự án sẽ cung cấp thông tin về dự án, những tác động tích cực có khả năng xảy ra khi triển khai dự án, những giải pháp giảm thiểu những tác động tiêu cực; dự báo những tác động tích cực của dự án, đồng thời lắng nghe ý kiến, sự phân tích, đánh giá của những đối tượng liên quan về những tác động của dự án.

Tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường nhằm huy động các bên có liên quan tham gia vào quá trình ra quyết định để bảo đảm cho dự án có tính minh bạch, công bằng, bình đẳng, hợp tác và khả thi; thu thập thông tin có liên quan đến nội dung dự án và những thông tin về môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn (văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị … ) tại địa bàn dự án; tìm kiếm và huy động sự đóng góp của các bên có liên quan về các biện pháp duy trì các tác động tích cực và giảm thiểu các tác động tiêu cực do dự án tạo ra, đặc biệt là những kinh nghiệm truyền thống và kiến thức bản địa của nhân dân địa phương…

Như vậy, tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường là quá trình tham gia của cộng đồng trong việc lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường và trao đổi thông tin giữa chủ dự án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đó với các bên có liên quan đến dự án.

3. Đối tượng được tham vấn

Điều 42 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”. Người dân có quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền tiếp cận thông tin, quyền được đưa ra ý kiến của mình về những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự sinh tồn và phát triển của chính mình và của cộng đồng mình. Điều này giúp tăng cường, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng, nhân dân vào quá trình đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội có hiệu quả hơn.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 33 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thì đối tượng được tham vấn bao gồm: Cộng đồng dân cư, cá nhân chịu tác động trực tiếp bởi dự án đầu tư và cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư. Và khoản 1 Điều 26 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, quy định chi tiết hơn về đối tượng tham vấn:

  • Cộng đồng dân cư, cá nhân chịu tác động trực tiếp bởi tác động môi trường do các hoạt động của dự án gây ra, bao gồm: cộng đồng dân cư, cá nhân sinh sống, sản xuất, kinh doanh tại khu vực đất, mặt nước, đất có mặt nước, khu vực biển bị chiếm dụng cho việc đầu tư dự án; cộng đồng dân cư, cá nhân nằm trong phạm vi tác động trực tiếp của nước thải, khí thải, bụi, tiếng ồn, chất thải rắn, chất thải nguy hại do dự án gây ra; cộng đồng dân cư, cá nhân bị ảnh hưởng do các hiện tượng sụt lún, sạt lở, bồi lắng bờ sông, bờ biển gây ra bởi dự án; cộng đồng dân cư, cá nhân bị tác động khác, được xác định thông qua quá trình đánh giá tác động môi trường. Việc tham vấn cộng đồng dân cư, cá nhân chịu tác động trực tiếp được thực hiện thông qua hình thức tham vấn hợp lấy ý kiến.
  • Cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư, bao gồm: Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi thực hiện dự án; Ban quản lý, chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp nơi dự án nằm trong ranh giới quản lý; cơ quan nhà nước quản lý công trình thủy lợi đối với dự án có xả nước thải vào công trình thủy lợi hoặc có chiếm dụng công trình thủy lợi; cơ quan quản lý nhà nước được giao quản lý các khu vực có yếu tố nhạy cảm về môi trường (nếu có); Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hoặc Bộ chỉ huy quân sự cấp tỉnh, Công an cấp tỉnh đối với các dự án có liên quan đến yếu tố an ninh - quốc phòng (nếu có). Việc tham vấn các cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư được thực hiện thông qua hình thức tham vấn bằng văn bản.

Đây là lần đầu tiên mà cộng đồng dân cư được quy định với tư cách là một chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường; tăng cường công khai thông tin, tham vấn, phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong các hoạt động bảo vệ môi trường. Thời gian qua, cộng đồng dân cư đã thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, tiêu biểu nhất là thông qua việc hình thành các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường hiệu quả. Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc thu thập, cung cấp thông tin về bảo vệ môi trường; tham gia đánh giá kết quả bảo vệ môi trường của doanh nghiệp. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 chưa quy định cộng đồng dân cư là một chủ thể trong công tác bảo vệ môi trường, vì vậy chưa đẩy mạnh, phát huy được vai trò quan trọng của cộng đồng dân cư. Chính vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung “cộng đồng dân cư" vào phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng nhằm khẳng định vị trí, vai trò của nhóm đối tượng này trong công tác bảo vệ môi trường cũng như đạt được mục tiêu bảo vệ sức khỏe người dân, đảm bảo người dân được sống trong môi trường trong lành. Tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã nhấn mạnh nhiệm vụ: “Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, trong đó có chủ trương “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; để phát huy vai trò giám sát, phản biện của cộng đồng dân cư, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã bổ sung quy định thiết lập hệ thống trực tuyến tiếp nhận, xử lý, trả lời phản ánh, kiến nghị, tham vấn của tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư về bảo vệ môi trường, qua đó giúp cộng đồng dân cư có thể tham gia giám sát hoạt động bảo vệ môi trường.

Trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, chủ dự án tổ chức tham vấn cơ quan, tổ chức, cộng đồng chịu tác động trực tiếp bởi dự án trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường. Điểm b Khoản 4 Điều 1 Nghị định số 40/2019/NĐ – CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường thì đối tượng được tham vấn là: Ủy ban nhân dân các cấp và các tổ chức chịu tác động trực tiếp bởi dự án. Nghị định này đã bổ sung thêm nhiều đối tượng được tham vấn hơn như Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh,... so với đối tượng được tham vấn quy định tại Nghị định số 18/2015/NĐ – CP về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường chỉ có Ủy ban nhân dân cấp xã tham gia tham vấn. Và Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 mới đây cũng mở rộng thêm đối tượng tham vấn. Việc đối tượng được tham vấn ngày càng được mở rộng hơn vì đối với các dự án có quy mô lớn và mức độ ảnh hưởng đáng kể thì cần có sự tham gia đóng góp ý kiến từ các tổ chức thuộc nhiều ban, ngành lĩnh vực để giúp bản báo cáo có thể bao quát được nhiều vấn đề hơn. Đồng thời, điều này cũng là một biểu hiện của chính sách của Nhà nước nhằm kêu gọi toàn dân tham gia bảo vệ môi trường.

4. Nội dung và hình thức tham vấn 

Nội dung tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường bao gồm: Vị trí thực hiện dự án đầu tư, tác động môi trường của dự án đầu tư, biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, chương trình quản lý và giám sát môi trường; phương án phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, các nội dung khác có liên quan đến dự án đầu tư.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 33 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, có 3 hình thức tham vấn: 

  • Tham vấn thông qua đăng tải trên trang thông tin điện tử: 

Trước khi trình cấp có thẩm quyền thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, chủ dự án gửi nội dung tham vấn báo cáo đánh giá tác động môi trường đến đơn vị quản lý trang thông tin điện tử của cơ quan thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường để tham vấn các đối tượng tham vấn, trừ thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị đăng tải của chủ dự án, đơn vị quản lý trang thông tin điện tử của cơ quan thẩm định có trách nhiệm đăng tải nội dung tham vấn. Việc tham vấn được thực hiện trong thời hạn 15 ngày; hết thời hạn tham vấn, đơn vị quản lý trang thông tin điện tử có trách nhiệm gửi kết quả tham vấn cho chủ dự án.

  • Tham vấn bằng tổ chức hợp lấy ý kiến:

Chủ dự án chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện dự án niêm yết báo cáo đánh giá tác động môi trường tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và thông báo thời gian, địa điểm tổ chức hợp tham vấn lấy ý kiến của cộng đồng dân cư, cá nhân chịu tác động trực tiếp bởi tác động môi trường do các hoạt động của dự án gây ra trước thời điểm hợp ít nhất là 05 ngày, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết báo cáo đánh giá tác động môi trường kể từ khi nhận được báo cáo đánh giá tác động môi trường cho đến khi kết thúc hợp lấy ý kiến.

Chủ dự án có trách nhiệm trình bày nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường tại cuộc họp tham vấn. Ý kiến của các đại biểu tham dự cuộc họp và các phản hồi, cam kết của chủ dự án phải được thể hiện đầy đủ, trung thực trong biên bản họp tham vấn cộng đồng theo mẫu do Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định.

  • Tham vấn bằng văn bản:

Chủ dự án gửi báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án đến các cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư kèm theo văn bản tham vấn. Các đối tượng được tham vấn bằng văn bản có trách nhiệm phản hồi bằng văn bản trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản tham vấn. Trường hợp không có phản hồi trong thời hạn quy định được coi là thống nhất với nội dung tham vấn.

5. Trách nhiệm thực hiện tham vấn

Trách nhiệm của chủ dự án trong việc tham vấn cộng đồng dân cư, được quy định ngay từ khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tại điểm a khoản 2 Điều 33 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: “Chủ dự án đầu tư phải thực hiện tham vấn đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này, được khuyến khích tham vấn ý kiến chuyên gia trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường”. Trong đó, đã quy định rõ trách nhiệm thực hiện tham vấn, đối tượng tham vấn, nội dung tham vấn chủ yếu, hình thức tham vấn trong quá trình thực hiện đánh giá tác động môi trường; kết quả tham vấn cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức liên quan là thông tin quan trọng để chủ dự án nghiên cứu đưa ra giải pháp giảm thiểu tác động của dự án đối với môi trường và hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép môi trường, Luật cũng đã quy định trách nhiệm của chủ dự án trong việc tham vấn ý kiến các bên có liên quan.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 không chỉ quy định trách nhiệm của chủ dự án mà còn quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư. Điểm b khoản 2 Điều 33 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: “Cơ quan, tổ chức quy định tại điểm b khoản 1 Điều này có trách nhiệm trả lời chủ dự án đầu tư bằng văn bản về nội dung được tham vấn trong thời hạn quy định; trường hợp hết thời hạn quy định mà không có văn bản trả lời thi được coi là thống nhất với nội dung tham vấn”.

(Sưu tầm và biên tập)