1.Thân phận của người được giám hộ
Giám hộ toàn phần và giám hộ một phần. Người được giám hộ, nếu chưa đủ sáu tuổi, chỉ có thể xác lập, thực hiện các giao dịch thông qua vai trò của người giám hộ (Ðiều 21). Ta nói rằng cho đến khi đủ sáu tuổi, người được giám hộ được đặt dứới chế độ giám hộ toàn phần.
Người được giám hộ từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể tự mình xác lập các giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi, các giao dịch khác chỉ có thể được xác lập và thực hiện với sự đồng ý của người giám hộ (Ðiều 20); cá biệt, người đủ 15 tuổi mà chưa đủ 18 tuổi, nếu có tài sản riêng đủ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, thì có thể tự mình xác lập các giao dịch, trừ những giao dịch mà luật đòi hỏi có sự đồng ý của người giám hộ (cùng điều luật), ví dụ, lập di chúc để định đoạt tài sản sau khi chết (Ðiều 647 khoản 2) hoặc định đoạt tài sản có giá trị lớn, dùng tài sản để đầu tư kinh doanh (Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Điều 46) . Ta nói rằng người được giám hộ từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được đặt dưới chế độ giám hộ một phần. Chế độ này được chia thành hai cấp độ, tuỳ theo người được giám hộ chưa đủ hay đủ 15 tuổi.
2.Nghĩa vụ của người giám hộ
Các nghĩa vụ của người giám hộ đối với người chưa thành niên được quy định tại các Ðiều 65 và 66 BLDS. Nội dung của nghĩa vụ được xác định tuỳ theo giám hộ mang tính chất toàn phần hay một phần.
Giám hộ toàn phần. Các nghĩa vụ của người giám hộ toàn phần có thể được chia thành hai nhóm: nghĩa vụ mang ý nghĩa thay thế chức năng của cha mẹ và nghĩa vụ của người quản trị tài sản.
Thay thế cha mẹ, người giám hộ dành cho người được giám hộ sự chăm sóc, giáo dục của gia đình. Mặc dù luật không nói rõ, có vẻ như tất cả các nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục của cha mẹ đối với con chưa thành niên đều rảng buộc người giám hộ. Tất nhiên người giám hộ không nuôi dưỡng người được giám hộ bằng chi phí của mình; nhưng cung cách nuôi dưỡng (bằng chi phí của người được giám hộ) cũng phải theo khuôn mẫu của việc nuôi dưỡng mà cha mẹ dành cho con. Việc giáo dục người được giám hộ cũng mang đầy đủ các đặc điểm của giáo dục gia đình: người giám hộ dành cho người được giám hộ sự giáo dục nhân cách, đạo đức, hỗ trợ trong việc học tập và định hướng nghề nghiệp cho người được giám hộ. Quản trị tài sản của ngưởi được giám hộ, người giám hộ phải gìn giữ, khai thác tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình (Điều 69 khoản 1), nghĩa là phải tránh làm mất mát, hư hỏng tài sản và bảo đảm sức sinh lợi của tài sản. Người giám hộ không chỉ nói đồng ý hay không đồng ý để người được giám hộ xác lập giao dịch với người thứ ba mà còn phải đại diện cho người sau này trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch đó.
Giám hộ một phần. Trong trường hợp giám hộ một phần, cần phần biệt tuỳ theo người được giám hộ chưa đủ hay đủ 15 tuổi.
1. Nếu người được giám hộ chưa đủ 15 tuổi, thì người giám hộ phải đảm nhận cả hai nhóm nghĩa vụ như đối với đối với người được giám hộ chưa đủ 6 tuổi. Các nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục có vẻ không có gì khác về nội dung so với trường hợp giám hộ người chưa đủ 6 tuổi. Trái lại, các nghĩa vụ quản trị tài sản trở nên nhẹ hơn, do người được giám hộ một phần có thể tự mình xác lập, thực hiện một số giao dịch. Theo BLDS Điều 20 khoản 1, người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc pháp luật có quy định khác. Điều 65 khoản 2 lại quy định rằng người giám hộ đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ 15 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Kết hợp hai điều luật, có thể ghi nhận ba nhóm giao dịch của người được giám hộ đủ 6 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi.
- Nhóm các giao dịch mà người này được phép tự mình xác lập, thực hiện mà không cần sự đồng ý của người giám hộ;
- Nhóm các giao dịch người này có thể tự mình xác lập, thực hiện nhưng phải có sự đồng ý của người giám hộ;
- Nhóm các giao dịch người này chỉ có thể xác lập, thực hiện thông qua vai trò của người giám hộ. Luật chỉ xác định đặc điểm của nhóm giao dịch thứ nhất: đó là các giao dịch đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi . Đối với hai nhóm còn lại, các giao dịch được ghi nhận chủ yếu trong tập quán. Chẳng hạn, người chưa thành niên chưa đủ 15 tuổi có thể tự mình nộp học phí (cho bản thân), có thể tiếp nhận các đồ vật, do người khác mượn của gia đình và nay hoàn trả lại,...
2. Nếu người được giám hộ đủ 15 tuổi, người giám hộ không còn các nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục mà chỉ còn các nghĩa vụ quản trị tài sản. Thậm chi, các nghĩa vụ quản trị tài sản cũng trở nên rất nhẹ nhàng, bởi theo quy định của pháp luật, người được giám hộ đủ 15 tuổi, trên nguyên tắc, có quyền tự mình quản lý các tài sản của mình (Luật hôn nhân và gia đình Điều 45 khoản 1); riêng trong trường hợp cần định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh, thì phải có sự đồng ý của người giám hộ (cùng điều luật)72 . Người từ đủ 15 tuổi trở lên còn có quyền lập di chúc, nếu người giám hộ đồng ý (BLDS Điều 647 khoản 2), như đã biết. Nói chung, một khi người được giám hộ đủ 15 tuổi, thì người giám hộ chấm dứt vai trò đại diện và chỉ còn giữ vai trò người hỗ trợ, giám sát người được giám hộ trong giao dịch.
3. Thực hiện các nghĩa vụ của người giám hộ
Luật chưa hoàn thiện. Không có năng lực hành vi nhưng có năng lực pháp luật, người chưa thành niên có thể là chủ thể của các quan hệ nghĩa vụ với tư cách là người có nghĩa vụ. Các ví dụ rất đa dạng: người chưa thành niên được gọi để nhận thừa kế; thực hiện một hành vi trái pháp luật gây thiệt hại vật chất cho người khác;…
Các nghĩa vụ của người được giám hộ chưa thành niên trên nguyên tắc, do người giám hộ thực hiện bằng tài sản của người được giám hộ. Tuy nhiên, có vẻ như luật chủ trương rằng nếu nghĩa vụ do chính người chưa thành niên tự mình xác lập phù hợp với các quy định của pháp luật và theo đúng ý chí, thì cũng chính người này tự mình thực hiện nghĩa vụ ấy, trừ các nghĩa vụ có tác dụng dịch chuyển tài sản có giá trị lớn. Nói chung, thái độ của người làm luật đối với vấn đề này không rõ ràng và điều này có thể gây khó khăn cho người thực hành luật trong trường hợp có tranh chấp: khác với việc thực hiện quyền, việc thực hiện nghĩa vụ của người được giám hộ đặt người này vào thế bất lợi và do đó, cần có biện pháp bảo vệ đặc biệt đối với người này.
4.Quyền của người giám hộ
Các quyền của nguời giám hộ được quy định tại các Ðiều 68 và 69 BLDS. Điều đáng chú ý đầu tiên là người làm luật không có quy định nào liên quan đến các quyền phi tài sản tương ứng với các nghĩa vụ phi tài sản (chăm sóc, giáo dục). Các quyền đối với tài sản của người được giám hộ được xây dựng trên nguyên tắc, theo đó, người giám hộ quản lý tài sản của người được giám hộ nhằm phục vụ lợi ích của người này. Các Điều 68 và 69 không phân biệt tuỳ theo người được giám hộ đủ hay chưa đủ 15 tuổi. Tuy nhiên, như đã nói, người đủ 15 tuổi được thừa nhận có những quyền rộng rãi đối với tài sản của mình; bởi vậy, các quyền của người giám hộ chủ yếu được ghi nhận trong điều kiện người được giám hộ dưới 15 tuổi. Người giám hộ của người chưa thành niên đủ 15 tuổi trở lên hầu như chỉ có quyền giám sát và phê duyệt các giao dịch quan trọng của người được giám hộ.
Sử dụng tài sản. Theo Điều 68 khoản 1, người giám hộ có quyền sử dụng các tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu cần thiết của người được giám hộ. Có thể, từ điều luật ngắn gọn này, thừa nhận rằng, trên nguyên tắc, người giám hộ có các quyền sử dụng, mà pháp luật thừa nhận cho chủ sở hữu, đối với tài sản của người được giám hộ, trừ những quyền bị cắt bằng các quy định rành mạch của luật.
Đối với doanh nghiệp thuộc sở hữu của người được giám hộ, người giám hộ điều hành theo cung cách của chủ sở hữu, nghĩa là được quyền quyết định các công việc kinh doanh hàng ngày phù hợp với mục đích hoạt động của doanh nghiệp. Riêng việc cho thuê, cho mượn tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ được coi là giao dịch quan trọng và được điều chỉnh theo cùng một cách như các giao dịch mang tính chất định đoạt tài sản.
Quyền định đoạt. Theo BLDS Điều 69 khoản 1, việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặc cọc và các giao dịch khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ. Nhận xét đầu tiên rút ra từ quy định đó là: người giám hộ có quyền định đoạt tài sản của ngưởi được giám hộ. Tuy nhiên, do tính chất quan trọng của giao dịch cũng như khả năng gây rủi ro của nó đối với lợi ích của người được giám hộ, luật đặt các giao dịch đó dưới sự giám sát khách quan (của người giám sát việc giám hộ) để bảo đảm lợi ích của người được giám hộ không bị xâm hại.
Tuy nhiên, luật chỉ dự kiến việc áp dụng cơ chế này trong trường hợp đối tượng của giao dịch là các tài sản có giá trị lớn. Điều đó có nghĩa rằng trong trường hợp tài sản có giá trị không lớn, thì cơ chế không được áp dụng: người giám hộ có quyền tự mình xác lập các giao dịch ấy, miễn là việc đó phù hợp với lợi ích của người được giám hộ.
Người giám hộ có quyền sử dụng và định đoạt các tài sản của người được giám hộ, với điều kiện việc sử dụng và định đoạt đó phải phù hợp với lợi ích của người được giám hộ. Người giám hộ không có quyền tặng cho người khác tài sản của người được giám hộ, cũng không có quyền thay mặt người được giám hộ chấp nhận một di sản không có khả năng thanh toán hay từ chối một di sản có khả năng thanh toán. Người giám hộ chỉ có thể bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ (và có lẽ cả việc bảo lãnh bằng tài sản của người được giám hộ) một khi có sự đồng ý của UBND xã, phường, thị trấn nơi người giám hộ cư trú.
5.Các trường hợp đặc thù
Giao dịch giữa người giám hộ và người được giám hộ. Các quyền lợi của người được giám hộ được đặt dưới sự quản lý của người giám hộ; bởi vậy, nếu người giám hộ xác lập một giao dịch liên quan đến tài sản của người được giám hộ, mà mình cũng là bên tham gia giao dịch với tư cách là người giao kết, thì rủi ro hy sinh lợi ích của người được giám hộ cho người giám hộ là rất lớn. Nhận thấy được điều này, người làm luật chủ động quy định rằng người giám hộ không được xác lập các giao dịch với người được giám hộ liên quan đến tài sản của người sau này (Điều 69 khoản 3). Tuy nhiên, trong điều kiện quy tắc được xây dựng nhằm bảo vệ lợi ích của người được giám hộ, lý lẽ của quy tắc sẽ mất đi trong trường hợp lợi ích của người được giám hộ được bảo vệ thoả đáng. Do đó, luật thừa nhận rằng các giao dịch giữa người giám hộ và người được giám hộ mà được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ thì vẫn có giá trị. Tuy nhiên, việc giao dịch có phù hợp hay không với lợi ích của người được giám hộ cần phải được người giám sát việc giám hộ đánh giá. Sự đồng ý của người này đối với giao dịch là điều kiện cần thiết để giao dịch có giá trị. Tặng cho. Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác (Điều 69 khoản 2). Được đồng hoá với tặng cho, việc miễn cho một người thực hiện nghĩa vụ tài sản. Cũng có thể đồng hoá với tặng cho, việc từ chối nhận di sản mà người được giám hộ là người thừa kế được gọi để hưởng.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)