1. Thanh toán tiền lương khi chấm dứt hợp đồng lao động ?

Thưa luật sư: cho em hỏi, em là sinh viên, em có ký hợp đồng với một Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ về công việc phục vụ Nhà hàng dành cho sinh viên, khi nghĩ việc em viết đơn xin nghỉ nhưng vì điều kiện cá nhân nên đến ngày nhận lương em không thể đến nhận được và em có báo với công ty là 2 tháng sau em sẽ đến nhận.
Nhưng sau đó em đến thì công ty không chịu trả lương cho em, và nói là em nghỉ lâu rồi kế toán không xuất chịu xuất ra tính lương, và bình thườnng thì công ty trả lương rất chậm so với hợp đồng từ 10 đến 15 ngày. Kính mong Công ty cho em xin ý kiến và làm thế nào em có thể nhận lương được ạ!
Em xin cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 48, Bộ luật lao động 2019 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tkhác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả.

Khoản 4 Điều 12 Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 quy định về Vi phạm quy định về tiền lương như sau:

"Phạt tiền đối với doanh nghiệp cho thuê lại lao động có một trong các hành vi: Trả lương cho người lao động thuê lại thấp hơn tiền lương của người lao động có cùng trình độ, làm cùng công việc hoặc công việc có giá trị như nhau của bên thuê lại lao động; không thông báo hoặc thông báo sai sự thật cho người lao động biết nội dung của hợp đồng cho thuê lại lao động; thực hiện việc cho thuê lại mà không có sự đồng ý của người lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên."

>> Tham khảo bài viết liên quan: Giải quyết chấm dứt hợp đồng lao động khi công ty không đồng ýthanh toán trợ cấp thôi việc?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thủ tục chấm dứt hợp đồng lao động thực hiện như thế nào ?

2. Tính tiền lương khi chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn ?

Kính gửi Luật sư Tôi muốn hỏi, tôi ký hợp đồng 1 năm với Công ty từng làm việc, nhưng do gia đình có việc ngoài ý muốn không thể thu xếp được nên tôi đã viết đơn xin chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong thời hạn 7 ngày và Công ty cũng đã chấp nhận cho tôi nghỉ việc trong thời gian đó tôi đã hoàn tất thủ tục bàn giao và có biên bản bàn giao cụ thể.
Nhưng đến ngày lãnh lương thì Công ty báo sẽ không giải quyết lương cho tôi vì tôi vẫn chưa bàn giao xong. Thưa Luật sư, Công ty làm như vậy có đúng không và tôi phải làm sao để nhận được lương và sổ Bảo hiểm?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì bạn và công ty đã thỏa thuận với nhau để chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Theo đó, công ty phải có trách nhiệm đối với người lao động trong trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động theo Điều 48 Bộ luật lao động 2019 như sau:

"1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm.

2. Tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động được ưu tiên thanh toán trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;

b) Cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động trả."

Theo đó, công ty có trách nhiệm trả đầy đủ tiền lương cho bạn khi bạn đã hoàn thành các việc bàn giao, cũng như có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà công ty đã giữ lại. Khi bạn đã bàn giao xong tất cả công việc, giấy tờ liên quan thì công ty cũng phải trả hết lương và sổ bảo hiểm cho bạn trong thời hạn 07 ngày, có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày. Nếu quá 30 ngày mà công ty vẫn không trả lương và sổ bảo hiểm cho bạn thì bạn có thể gửi yêu cầu đến Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để hoà giải. Các cơ quan này sẽ có trách nhiệm tiến hành hòa giải cho bạn và công ty để công ty có thể trả lương và sổ bảo hiểm cho bạn. Nếu hòa giải không thành thì bạn có quyền gửi đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để giải quyết theo Điều 32, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác.

>> Xem thêm:  Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ? Mức bồi thường

3. Quyền lợi của người lao động khi công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em làm việc tại công ty du học từ tháng 04/2013. Công ty ký hợp đồng lao động (HĐLD) 01 năm từ ngày 01/06/2013 đến 01/06/2014. Sau đó công ty ký tiếp HĐLĐ 01 năm nữa từ 01/06/2014 đến 01/06/2015 .

Ngày 06/05/2015, công ty có sự mâu thuẫn với đối tác (em đem hợp đồng về công ty thông qua đối tác này, công ty có ký kết với đối tác về khoản hoa hồng khi hợp đồng thành công, nhưng công ty không thực hiện xảy ra sự mâu thuẫn giữa công ty và đối tác). Công ty làm sai với hợp đồng đã ký với đối tác và muốn em là người phải giải quyết chuyện này.

Vì em chỉ là nhân viên và em không có thẩm quyền giải quyết, em có báo công ty vụ việc này và nhờ Ban giám Đốc trực tiếp giải quyết mới hợp lý và thoả đáng với đối tác. Nhưng công ty luôn hằn học và cố tình gây khó dễ cho em. Tất cả nhân viên trong công ty đều xác nhận công ty làm sai và cố tình gây khó dễ, gây sức ép cho em.

Đến ngày 22/05/2015, công ty kêu em vô thông báo là sẽ không tái ký hợp đồng tiếp tục vì lý do em không giải quyết được vấn đề trên. Và nói là báo trước cho em 30 ngày tức là em làm thêm 30 ngày sau nữa là nghỉ việc.

Luật sư cho em hỏi :

1/ Công ty đã vi phạm về thời hạn báo trước về việc báo trước thời gian không tái ký hợp đồng đúng không ạ ? Vì đến 01/06/2015 là đến hạn ký hợp đồng và tăng lương theo như quy định trước giờ của công ty (em sẽ được ký tiếp là hợp đồng vô thời hạn vì em đã ký 2 lần hợp đồng xác định thời hạn 1 năm) nhưng công ty nói là không vi phạm vì giờ đã báo trước cho em 30 ngày (tức từ 22/05/2015 đến 22/06/2015)

2/ Luật sư cho em biết tất cả những quyền lợi em được hưởng về tiền lương, bồi thường và trợ cấp thế nào từ công ty ạ ? (công ty có đóng bảo hiểm đầy đủ cho nhân viên). Vì em đang yêu cầu công ty giải quyết chế độ cho em nhưng công ty nói không có chế độ gì hết. Hiện tại con em mới được 09 tháng 02 tuần, em có được hưởng quyền lợi gì không ạ?

4/ Về chế độ thất nghiệp từ bảo hiểm xã hội em được hưởng ra sao ạ ? (em đóng bảo hiểm được 02 năm)

Em xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Về việc thông báo chấm dứt hợp đồng lao động của công ty

Theo như thông tin bạn trình bày thì công ty ký hợp đồng lao động (HĐLD) 01 năm từ ngày 01/06/2013 đến 01/06/2014. Sau đó công ty ký tiếp HĐLĐ 01 năm nữa từ 01/06/2014 đến 01/06/2015. Đến ngày 22/05/2015, công ty thông báo với bạn là sẽ không tái ký hợp đồng tiếp tục vì lý do bạn không giải quyết được vấn đề của công ty và nói là báo trước cho bạn 30 ngày tức là bạn làm thêm 30 ngày sau nữa là nghỉ việc.

Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật lao động năm 2019 thì :

"Điều 20. Loại hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thi hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; trong thời gian chưa ký kết hợp đồng lao động mới thì quyn, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết;

b) Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

c) Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.".

Như vậy, nếu công ty muốn chấm dứt hợp đồng lao động với bạn trước khi hết hạn hợp đồng thì công ty phải báo trước 30 ngày theo quy định tại điểm b, khoản 2, điều 36 Bộ luật lao động, tức là phải báo trước từ 1/5/2015.

Thời gian 1/6/2015 bạn hết hạn hợp đồng nhưng công ty thông báo bạn làm đến 22/6/2015. Như vậy, kể từ ngày 2/6/2015 trở đi thì hợp đồng của bạn với công ty là hợp đồng không xác định thời hạn ( do đã ký liên tiếp 2 hợp đồng xác định thời hạn). Như vậy, nếu công ty muốn chấm dứt hợp đồng lao động của bạn thì phải đáp ứng điều kiện quy định tại điều 36 Bộ luật lao động 2019 cụ thể là :

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trlên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hp đồng lao động trong trưng hợp quy đnh tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác đnh thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động. ".

Công ty không làm theo quy định trên tức là chấm dứt hợp đồng lao động trái luật.

2. Quyền lợi của bạn khi công ty chấm dứt trái luật

Bạn sẽ được hưởng các quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ của người sử dụng lao động theo quy định tại điều 41 Bộ luật lao động, cụ thể là :

"1. Phải nhận người lao động trlại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trtrợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động."

Còn đối với việc con bạn được 9 tháng 2 tuần tuổi có được hưởng quyền lợi gì không thì pháp luật không quy định về trường hợp này. Cho nên, công ty không có nghĩa vụ thanh toàn khoản tiền nào liên quan đến vấn đề này.

3. Có được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 49 Luật việc làm năm 2013, cụ thể :

Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

"1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.".

Bạn đóng bảo hiểm được 2 năm ( tháng 6/2013 đến tháng 6/2015) và đến tháng 6/2015 bạn nghỉ việc cho nên bạn cần có đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm ( đủ 12 tháng trở lên trong khoảng thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng ), không thuộc trường hợp không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Như vậy, bạn cần tiến hành các điều kiện theo khoản 3, 4, điều 49 để được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ là :

"Điều 50. Mức, thời gian, thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.

2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng.

3. Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này."

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến : 1900.6162. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Mẫu giấy xác nhận thu nhập tiền lương, tiền công mới nhất 2020

4. Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước tuổi hưu 1 năm ?

Chào luật sư, Nhờ luật sư tư vấn giúp mẹ tôi. Năm nay mẹ tôi 54 tuổi. Sang năm mới đến tuổi về hưu.Mẹ tôi đang làm Tạp vụ cho công ty May Hàn Quốc. Ngày 04 tháng 04 đồng chí nhân sự gọi mẹ tôi lên bảo công ty sẽ cho mẹ tôi nghỉ việc trước 1 năm. Mẹ tôi hỏi lý do vì sao thì đồng chí nói do năm cuối trước hưu trí mẹ tôi chỉ phải làm 7h/ngày nhưng công ty vẫn phải trả đủ lương. Nếu cho mẹ tối làm tiếp thì sẽ bị bên bảo hiểm phạt.
Mẹ tôi không đồng ý và có nói vẫn đủ sức khỏe đi làm, không cần chế độ 7h kia nhưng đến ngày 28 tháng 04 năm 2016 me tôi nhân được văn bản quyết định chấm dứt hợp đồng lao động từ 18 tháng 05. Trong quyết định có ghi lý do chấm dứt HĐLĐ là do mẹ tôi không đáp ứng được yêu cầu công việc. Và phòng nhân sự có nói lại rằng mẹ tôi không được bổi thường bất cứ khoản nào.
Tuy nhiên từ ngày làm việc ở công ty mẹ tôi chưa bao giờ vi phạm HĐLD hay quy định lao động của công ty. Nhờ luật sư tư vấn từng bước để tôi có thể giúp mẹ tôi lấy lại quyền lợi của người lao động ạ ?
Cảm ơn!

Tư vấn về việc công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước tuổi hưu 1 năm ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 2 Điều 148 Bộ luật lao động năm 2019 áp dụng chung cho người lao động trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu, không phân biệt là người lao động cao tuổi, lao động nữ, lao động nam... Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, có nhiều ý kiến đề nghị phải làm rõ quy định này áp dụng như thế nào đối với người lao động cao tuổi vì Khoản 2 Điều 166 Bộ luật Lao động đã quy định “người lao động cao tuổi được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian”.

Vì vậy, Chính phủ đã quy định nội dung này tại Khoản 10 Điều 3 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013, cụ thể: Thời giờ làm việc được rút ngắn mỗi ngày ít nhất 1 giờ đối với người lao động cao tuổi trong năm cuối cùng trước khi nghỉ hưu được tính vào thời giờ làm việc được hưởng lương.

Như vậy thì theo quy định của luật Lao động , người lao động vào năm cuối trước khi nghỉ hưu được giảm ít nhất một giờ trong thời giờ làm việc và vẫn được hưởng lương bình thường.Mẹ bạn sẽ được giảm thời giờ làm việc từ 8h trong 1 ngày xuống còn 7h/ 1 ngày. Việc công ty bạn nói nếu tiếp tục cho mẹ bạn làm việc tiếp thì công ty sẽ bị phạt như vậy là sai. Vì không có quy định nào của pháp luật quy định rằng cho người trước khi về hưu một năm được nghỉ hưu trước. Đó chỉ là cái cớ của công ty mẹ bạn khi vẫn phải trả đầy đủ tiền lương như trong hợp đồng mà mẹ bạn lại làm giảm đi một giờ

Theo quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động."

Như vậy nếu mẹ bạn không thuộc vào một trong các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động mà công ty bạn kiên quyết cho mẹ bạn nghỉ việc thì công ty bạn đã vi phạm quy định của pháp luật

Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

"1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động."

>>> Người sử dụng lao động phải có trách nhiệm nhân lại người lao động và nếu không nhận lại người lao động là mẹ bạn thì phải có trách nhiệm bồi thường.

Theo quy định tại Điều 187, 188

Điều 187.Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Điều 188. Trình tự, thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động

1. Tranh chấp lao động cá nhân phải được giải quyết thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án giải quyết, trừ các tranh chấp lao động sau đây không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải:

a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;

b) Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;

c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;

d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, về bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về việc làm, về bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;

đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại.

>>Mẹ bạn có thể nhờ hòa giải viên lao động để giải quyết tranh chấp hoặc có thể gửi đơn cộng với các bằng chứng chứng cứ đến cơ quan tòa án nhân dân nơi có trụ sở của công ty mẹ bạn để được giải quyết theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến : 1900.6162. Trân trọng./.

5. Kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải

Kính gửi luật sư, nhờ Luật sư tư vấn giúp em trường hợp này ạ. Công ty em có một trường hợp vi phạm nội quy kỷ luật công ty theo nội quy lao động thì bị sa thải (nói dối, lừa gạt và chiếm dụng tiền của công ty). Người này phạm lỗi từ tháng 05/2014, nhưng do một vài lý do nên đến nay (28/04/2016) vẫn chưa kỷ luật sa thải người này. Giờ công ty muốn chấm dứt HĐLĐ đối với người này thì có thể ra quyết định sa thải được không? Nếu không được thì làm cách nào để chấm dứt hợp đồng lao động đối với người này? Người này vào làm việc ở công ty ngày 14/04/2008, ký hợp đồng không thời hạn ngày 14/06/2012.

>> Thứ nhất, về thời hiệu xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại điều 123 Bộ luật lao động năm 2019, cụ thể:

"Điều 123. Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động

1. Thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 06 tháng kể từ ngày xảy ra hành vi vi phạm; trường hợp hành vi vi phạm liên quan trực tiếp đến tài chính, tài sản, tiết lộ bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh của người sử dụng lao động thì thời hiệu xử lý kỷ luật lao động là 12 tháng.

2. Khi hết thời gian quy định tại khoản 4 Điều 122 của Bộ luật này, nếu hết thời hiệu hoặc còn thời hiệu nhưng không đủ 60 ngày thì được kéo dài thời hiệu để xử lý kỷ luật lao động nhưng không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.

3. Người sử dụng lao động phải ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.".

Như vậy, hành vi từ tháng 5/2014 và đến nay đến tháng 4/2016, tức là đã hết thời hiệu xử lý kỷ luật lao động.

Hiện tại, muốn chấm dứt hợp đồng lao động với người này cần tuân thủ quy định tại điều 36 Bộ luật lao động năm 2019:

"Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động.".

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Lao động - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn xây dựng quy chế cho doanh nghiệp