Vấn đề 1: Hiệu lực của quyết định của ĐHĐCĐ

Nếu các quyết định của ĐHĐCĐ đã theo Điều lệ và Luật Doanh nghiệp thì đương nhiên có hiệu lực ngay.

Việc có người nào đó yêu cầu Toà án xem xét tính hợp pháp của quyết định của ĐHĐCĐ không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của quyết định đó bởi vì chưa có bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật tuyên bố nó trái luật và do đó đương nhiên nó vẫn có hiệu lực thi hành.

Luật Doanh nghiệp là “luật tư”, giành quyền quyết định cho các ông chủ. Khoản 1 Điều 70 Luật Doanh nghiệp 1999 hoặc Khoản 1 Điều 96 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “ĐHĐCĐ gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số: 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp - 1900.6162

Tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Ảnh minh họa

Có ý kiến cho rằng: Trong thời gian khiếu kiện, quyết định của ĐHĐCĐ chưa có hiệu lực bởi vì nó chưa được Toà án tuyên bố là đúng luật; chỉ khi nào nó được Toà án tuyên bố là đúng luật thì mới có hiệu lực thi hành. Ý kiến này hoàn toàn trái với Luật doanh nghiệp vì như vậy thì Toà án mới là cơ quan quyết định cao nhất chứ không phải ĐHĐCĐ, trong khi thẩm quyền, vai trò của Toà án trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự, kinh tế ...  chỉ là cơ quan tài phán-Trọng tài. Tức là Toà án chỉ có quyền ra phán quyết đúng, sai của quyết định của ĐHĐCĐ chứ không có quyền quyết định nào khác vào công việc nội bộ của công ty do 2 cơ quan là ĐHĐCĐ và Hội đồng quản trị công ty quyết định. Hệ quả của tư duy về việc này sẽ tạo nên sự lộn xộn trong thực tế sẽ sảy ra nếu ví như cổ đông đã thông qua nghị quyết, sau đó thấy nghị quyết đó không có lợi cho mình lại đi khiếu kiện, gây tranh chấp làm cho hoạt động của công ty bị gián đoạn, bế tắc. Chẳng lẽ có cổ đông nào đó chỉ sở hữu một cổ phần đi kiện quyết định của ĐHĐCĐ thì quyết định của ĐHĐCĐ vẫn chưa có hiệu lực hay sao?

Theo các nội dung quy định trong các điều khoản của Luật doanh nghiệp ,cần phải nhìn nhận vấn đề một cách đúng đắn, đó là quyết định của ĐHĐCĐ đã dựa theo Điều lệ và Luật Doanh nghiệp thì có hiệu lực ngay và cổ đông phải có nghĩa vụ chấp hành quyết định đó. Nếu cổ đông thấy quyết định đó chưa đúng với Điều lệ và Luật Doanh nghiệp thì có thể kiện ra toà và trong khi chưa có phán quyết của Toà án thì cổ đông vẫn phải có nghĩa vụ tuân thủ nghị quyết đã được ĐHĐCĐ thông qua. Có như thế mới đảm bảo ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất của công ty.

Điều 79 Luật Doanh nghiệp 1999 và Điều 107 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày quyết định được thông qua, cổ đông, thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) và Ban Kiểm soát có quyền yêu cầu Toà án hoặc trọng tài xem xét huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ trong các trường hợp sau đây:

- Trình tự và thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ không thực hiện đúng theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty

- Trình tự thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.

Như vậy nếu có ai kiện quyết định của ĐHĐCĐ thì chỉ được kiện theo các trường hợp quy định tại Điều 79 Luật Doanh nghiệp 1999 hoặc Điều 107 Luật Doanh nghiệp 2005. Và đương nhiên trong thời gian khiếu kiện quyết định của ĐHĐCĐ vẫn có hiệu lực vì nó chưa được Toà án tuyên bố là trái luật, mà đã chưa trái luật thì đương nhiên hợp pháp. Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật.

Tiện đây cũng cần bàn đến công việc xét xử liên quan đến Luật Doanh nghiệp. Nếu cứ theo trình tự tố tụng như hiện nay thì thời gian xét xử sơ thẩm, phúc thẩm rồi giám đốc thẩm thường kéo dài trong nhiều năm. Đơn cử như vụ Công ty Cổ phần bê tông xây dựng Hà Tây xét xử kéo dài 48 tháng vừa hết một nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị vừa được công nhận thì đã hết nhiệm kỳ, chưa hoạt động được ngày nào thì công ty đã phải tính chuyện bầu Hội đồng nhiệm mới. Nên chăng cần thay đổi thủ tục xét xử các vụ án kinh tế liên quan đến Luật doanh nghiệp, theo kinh nghiệp của Singapore chỉ xét xử một lần (adhoc) và phán quyết của Toà án có giá trị chung thẩm.

Vấn đề 2:  Cách hành xử của Cơ quan Đăng ký kinh doanh

Một vấn đề mà công ty Đay Sài Gòn mắc phải là vấn đề đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty. Phòng đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và đầu tư TPHCM không chấp nhận đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty vì họ cho rằng quyết định của ĐHĐCĐ đang bị khiếu kiện và người đại diện theo pháp luật cũ không chịu ký tên vào thông báo thay đổi. Họ quan niệm rằng phải chờ khi nào vụ kiện được giải quyết và Toà án tuyên bố quyết định của ĐHĐCĐ là đúng luật thì lúc đó mới chấp nhận hồ sơ đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật.

Chúng tôi cho rằng tư duy trên là không hợp lý và cũng không có căn cứ pháp luật . Bởi vì như đã phân tích ở trên, quyết định của ĐHĐCĐ mặc dù đang bị khiếu kiện nhưng vẫn hợp pháp. Như vậy việc đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty là hoàn toàn hợp pháp và do đó Phòng đăng ký kinh doanh phải có nghĩa vụ thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty. Nếu Phòng đăng ký kinh doanh không chấp nhận việc thay đổi này tức là đã can thiệp vào công việc nội bộ của công ty. Chúng ta nên nhớ rằng thay đổi người đại diện theo pháp luật là công việc nội bộ của công ty, Phòng đăng ký kinh doanh chỉ là nơi tiếp nhận những thay đổi của công ty mà thôi. Phòng đăng ký kinh doanh phải tôn trọng các quyết định quản lý nội bộ hợp pháp của doanh nghiệp, mà quyết định của ĐHĐCĐ của công ty đay Sài Gòn cho đến nay là hoàn toàn hợp pháp.

Cũng nên nhớ rằng theo quy định tại Điều 29 Nghị định 88/2006/NĐ-CP thì hồ sơ thay đổi người đại diện theo pháp luật của công ty không quy định phải có sự bàn giao vì người bị bãi miễn rất ít khi tự giác bàn giao cho người mới.

Cần phải khẳng định lại rằng quyết định của ĐHĐCĐ vẫn hợp pháp nếu Toà án chưa tuyên bố nó trái luật. Do vậy các quyết định của ĐHĐCĐ phải được tôn trọng và phải được thực hiện. Vì quyết định của ĐHĐCĐ là hợp pháp nên tư cách của HĐQT và BKS nhiệm kỳ II hoàn toàn cũng hợp pháp dẫn đến các quyết định của HĐQT nhiệm kỳ II cũng hợp pháp. Cho nên người đại diện theo pháp luật của công ty hiện nay phải là người do HĐQT nhiệm kỳ II bầu, tức là ông Nguyễn Văn Khảm. Còn ông Trần Hải Âu đã bị bãi miễn nên không thể là người đại diện theo pháp luật của công ty.

Việc cơ quan đăng ký kinh doanh không chấp nhận đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật là hoàn toàn trái Luật doanh nghiệp. Với việc không công nhận quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì cơ quan đăng ký kinh doanh đã trực tiếp huỷ kết quả của Đai hội đồng cổ đông mặc dù Toà án chưa có quyết định huỷ. Hoá ra cơ quan đăng ký kinh doanh trong trường hợp lại có quyền lớn hơn cả Toà án hay sao? Không biết rằng cơ quan đăng ký kinh doanh có hiểu rõ hậu quả pháp lý của việc này như thế nào? Việc này sẽ tạo ra nguy cơ gây thiệt hại cho công ty và khách hàng bởi vì khách hàng không biết giao dịch với công ty thông qua ai: người đã bị Hội đồng quản trị bãi miễn nhưng vẫn đứng tên là người đại diện theo pháp luật trong Giấy chứng nhận ĐKKD hay người đại diện theo pháp luật mới được Hội đồng quản trị bầu nhưng chưa có tên trong GCN ĐKKD.

Khoảng trống quyền lực này sẽ gây ra những lộn xộn và có thể xảy ra những tranh tụng không đáng có giữa công ty với khách hàng và người đại diện theo pháp luật đã bị bãi miễn có thể vụ lợi mà vẫn có khả năng thoát tội, được biết công ty đang có những vấn đề về tài chính liên quan đến 16 tỷ đồng như Báo Đời sống và Pháp luật cuối tuần số 28 từ ngày 13 đến ngày 19/07/2007 đã nêu.

Luật gia Cao Bá Khoát

Giám đốc Công ty TNHH

Tư vấn Doanh nghiệp K và Cộng sự