1. Thỏa thuận giá đền bù khi thu hồi đất ?

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi hiện nay đang cư trú tại Khu 5 thị trấn CR, huyện VĐ, tỉnh Quảng Ninh Nhà tôi có 220,4 mét vuông đất (cả đất nhà ở và đất vườn tạp) đã được cấp bìa đỏ.
Gia đình tôi đã xây dựng 2 căn nhà trên mảnh đất đó, một căn nhà 2 tầng và một căn nhà cấp 4. Nay UBND huyện VĐ có giao cho Công ty TNHH VL thu hồi đất để thực hiện dự án khu vui chơi giải trí và trung tâm thương mại. Giá đất đền bù mà Công ty TNHH VL đưa ra hiện nay là 5.500.000đ/m2. Với giá đền bù trên gia đình tôi không đồng ý với giá đất mà công ty TNHH VL đưa ra. Vậy, thưa luật sư gia đình tôi có thể yêu cầu công ty TNHH VL đưa ra mức giá đền bù theo thỏa thuận giữa gia đình tôi và công ty được không? (nếu được) gia đình tôi phải làm những thủ tục gì? Ngoài giá đền bù đất gia đình tôi có được đền bù nhà ở không, giá đền bù như thế nào? Tôi xin nói thêm, dự án này đã có từ năm 2004 nhưng bên phía công ty và UBND huyện chưa có văn bản cụ thể về dự án này cho người dân biết. Vào năm 2011 gia đình tôi có xây lại nhà và xin cấp giấy phép xây dựng nhưng UBND huyện không đồng ý cấp vì lý do "đất trong dự án" không được phép xây dựng. Gia đình tôi vẫn tiếp tục xây dựng (vì căn nhà cũ của gia đình đã quá cũ kĩ (xây dựng năm 1975) không đủ sức chống chọi với những cơn bão hàng năm).
Thưa luật sư, gia đình tôi đã tự ý xây dựng nhà như vậy có ảnh hưởng đến quyền lợi đền bù của gia đình tôi không?
Rất mong nhận được câu trả lời sớm của Luật sư Minh Khuê! Thay mặt gia đình tôi xin trận trọng cám ơn quý luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật Đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Công ty chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Hiện nay, Nhà nước cũng đã quy định cơ chế tự thỏa thuận giá bồi thường khi thu hồi đất giữa doanh nghiệp với người có đất bị thu hồi. Theo đó Dự án xây dựng khu dân cư mà doanh nghiệp đầu tư không phải Nhà nước thu hồi thì người sử dụng đất và chủ đầu tư thỏa thuận với nhau về hình thức chuyển đổi và mức đền bù. Gia đình bạn nên đàm phán và thỏa thuận trực tiếp với đại diện của doanh nghiệp về giá đền bù khi thu hồi đất nếu không đồng ý với mức giá đền bù mà doanh nghiệp đưa ra.

Căn cứ vào Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, gia đình bạn được bồi thường thiệt hại về nhà và các công trình xây dựng khác gắn liền với đất như sau:

"Điều 9. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất

Việc bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Khoản 2 Điều 89 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Mức bồi thường nhà, công trình bằng tổng giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại và khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình đó.

Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng (=) tỷ lệ phần trăm chất lượng còn lại của nhà, công trình đó nhân (x) với giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành.

Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại.

2. Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định theo công thức sau:

Thỏa thuận giá đền bù khi thu hồi đất ? Mức tiền bồi thường, chính sách hỗ trợ sau thu hồi đất ?

Trong đó:

Tgt: Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại;

G1: Giá trị xây mới nhà, công trình bị thiệt hại có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành;

T: Thời gian khấu hao áp dụng đối với nhà, công trình bị thiệt hại;

T1: Thời gian mà nhà, công trình bị thiệt hại đã qua sử dụng.

3. Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần mà phần còn lại không còn sử dụng được thì bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, những vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ.

4. Đối với nhà, công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Bộ quản lý chuyên ngành ban hành thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường cụ thể cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương."

Căn cứ vào Điều 49 Luật Đất đai năm 2013 như sau:

Điều 49. Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

"2. Trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm; nếu người sử dụng đất có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình hiện có thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật.

3. Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất.

Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền theo quy định tại khoản 2 Điều này".

Trong trường hợp của gia đình bạn thì dự án đã có từ năm 2004 nhưng đến nay là năm 2015 mà UBND huyện vẫn chưa có bất cứ một thông báo, quyết định cụ thể nào cho người dân, có thể có 2 trường hợp:

- Trường hợp chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện: Trường hợp này bạn được tiếp tục sử dụng và thực hiện các quyền của người sử dụng đất, bao gồm cả xây mới nhà

- Trường hợp có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện: Từ 2004 đến 2011 mà chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan có thẩm quyền phải điều chỉnh, hủy bỏ. Đồng nghĩa với việc bạn sẽ được xây mới nhà ở.

Cả hai trường hợp này, nếu trường hợp chính quyền không cho phép bạn cải tạo lại nhà thì bạn có thể khiếu kiện, khiếu nại quy định tại Điều 204 Luật đất đai 2013. Điều 204 quy định như sau:

"1. Người sử dụng đất, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến sử dụng đất có quyền khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính"

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

2. Những căn cứ nào nhà nước thu hồi đất do vi phạm ?

Thưa luật sư, xin Luật sư cho em hỏi là: Theo quy định của pháp luật, những trường hợp nào Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất và việc thu hồi dựa trên những căn cứ nào ? Xin cho biết, quy định của pháp luật về việc Nhà nước thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người ?
Cảm ơn!

Những căn cứ nào nhà nước thu hồi đất do vi phạm ? Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người ?

Tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, theo quy định của pháp luật, những trường hợp Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất và việc thu hồi dựa trên những căn cứ sau:

1. Khoản 1 Điều 64 Luật đất đai năm 2013 quy định các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

- Các trường hợp bất khả kháng ảnh hưởng đến tiến độ sử dụng đất của dự án đầu tư đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất được quy định rõ tại Điều 15 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai gồm:

+ Do ảnh hưởng trực tiếp của thiên tai, thảm họa môi trường;

+ Do ảnh hưởng trực tiếp của hỏa hoạn, dịch bệnh;

+ Do ảnh hưởng trực tiếp của chiến tranh;

+ Các trường hợp bất khả kháng khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

- Thời điểm để tính gia hạn 24 tháng đối với trường hợp không đưa đất vào sử dụng hoặc tiến độ sử dụng đất chậm được quy định tại Điều 15 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP như sau:

+ Trường hợp dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa thì cho phép chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng tính từ tháng thứ 13 kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa;

+ Trường hợp dự án đầu tư chậm tiến độ sử dụng đất 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa thì thời điểm để tính gia hạn sử dụng đất 24 tháng được tính từ tháng thứ 25 kể từ thời điểm phải kết thúc việc đầu tư xây dựng. Trường hợp dự án được giao đất, cho thuê đất theo tiến độ thì việc gia hạn sử dụng đất 24 tháng được áp dụng đối với từng phần diện tích đất đó; thời điểm để tính gia hạn sử dụng đất 24 tháng được tính từ tháng thứ 25 kể từ thời điểm phải kết thúc việc đầu tư xây dựng trên phần diện tích đất đó.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức rà soát, xử lý và công bố công khai trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc chậm tiến độ sử dụng đất 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư; các dự án được gia hạn; các dự án chậm tiến độ sử dụng đất vì lý do bất khả kháng; cung cấp thông tin để công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tổng cục Quản lý đất đai.

2. Khoản 2 Điều 64 Luật đất đai năm 2013 quy định việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.

Thứ hai, quy định của pháp luật về việc Nhà nước thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người:

Khoản 1 Điều 65 Luật đất đai năm 2013 quy định các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người bao gồm:

- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;

- Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

- Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

- Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;

- Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người;

- Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.

Khoản 2 Điều 65 Luật đất đai năm 2013 quy định việc thu hồi đất theo quy định tại Khoản 1 Điều 65 phải dựa trên các căn cứ sau đây:

- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã có hiệu lực pháp luật đối với trường hợp tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất

- Giấy chứng tử hoặc quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác nhận không có người thừa kế của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người để thừa kế đã chết đó đối với trường hợp cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;

- Văn bản trả lại đất của người sử dụng đất đối với trường hợp người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;

- Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất đối với trường hợp đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn;

- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định mức độ ô nhiễm môi trường, sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người đối với trường hợp đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đt ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai về thu hồi đất, gọi: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

3. Mức tiền bồi thường, chính sách hỗ trợ sau thu hồi đất ?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Kính thưa Luật sư, tôi xin hỏi về trường hợp của tôi như sau: Năm 2010 tôi có mua 1 căn nhà 70 mét vuông và diện tích đất + nhà là 200 mét, cùng chung với thửa đất lớn.
Do thửa đất nằm trong vùng quy hoạch đường vành đai 2 tp HCM vậy nên tôi chỉ làm được hơp đồng giấy tay mà chưa làm hơp thức hóa tách sổ riêng ra được. Căn nhà cũng chưa được cấp sổ hồng, chỉ có quyết định cấp số nhà của UBND quận cấp. Nhà được xây cất năm 2004 và không có tranh chấp ,có ranh giới rỏ ràng. Nay nhà nước chuẩn bị thu hồi đất để làm đường.
Vậy tôi xin hỏi Luật Sư diện của tôi được bồi thường như thế nào? Nhà đất của tôi có được tính theo giá nhà đã được hợp thức hóa không ? Phần đất được đền thổ cư cho tôi là bao nhiêu ? Các khoản đền bù hỗ trợ di dời và ổn định cuộc sống là bao nhiêu ạ? Hộ khẩu của tôi khác phường nhưng cùng quận thì có được hưởng những quyền lợi như các hộ khác không?
Kính mong Luật sư giúp đỡ trả lời hướng dẫn cho chúng tôi, chúng tôi vô cùng biết ơn!!

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến gọi : 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 75, 76 Luật đất đai 2013 như sau:

Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

2. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

4. Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

Điều 76. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Các trường hợp không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật này;

b) Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất;

c) Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng;

d) Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn;

đ) Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.

2. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất

Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này.

Như vậy, Tuy bạn không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng chưa có sổ hồng, cũng không thuộc các trường hợp mà Nhà nước thu hồi đất nhưng không được bồi thường về đất nên gia đình bạn được bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai 2013.

Các khoản bồi thường bao gồm:

Điều 79. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:

a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng tiền;

b) Trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất.

Căn cứ điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP như sau:

Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

3. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thi được Nhà nước bồi thường bằng tiền.

4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

5. Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở tại địa phương, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất; thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại vẫn đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng tiền đối với phần diện tích đất thu hồi;

b) Trường hợp thu hồi toàn bộ diện tích đất hoặc thu hồi một phần diện tích đất của dự án mà phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện dự án thì được bồi thường bằng đất để thực hiện dự án hoặc bồi thường bằng tiền;

c) Đối với dự án đã đưa vào kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường bằng tiền.

3. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất để thực hiện dự án xây dựng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất, nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường về đất.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Đối với việc xác định diện tích đất của bạn khi đền bù được xác định là đất ở thì phải căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mảnh đất đó. Tuy bạn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng có thể căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người chủ cũ để xác định loại đất khi tính giá đền bù.

Điều 83. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

1. Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:

a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.

2. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;

b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;

c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;

d) Hỗ trợ khác.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Điều 84. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất

1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm.

Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh.

2. Đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm.

3. Căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm tổ chức lập và thực hiện phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người có đất thu hồi là đất nông nghiệp, đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ. Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm được lập và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện phải tổ chức lấy ý kiến và có trách nhiệm tiếp thu, giải trình ý kiến của người có đất thu hồi.

Điều 86. Bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở

1. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư.

Nội dung thông báo gồm địa điểm, quy mô quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, thiết kế, diện tích từng lô đất, căn hộ, giá đất, giá nhà tái định cư; dự kiến bố trí tái định cư cho người có đất thu hồi.

2. Người có đất thu hồi được bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc có điều kiện bố trí tái định cư. Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.

Phương án bố trí tái định cư đã được phê duyệt phải được công bố công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định cư.

3. Giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.

4. Trường hợp người có đất thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền bồi thường, hỗ trợ không đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu.

Chính phủ quy định cụ thể suất tái định cư tối thiểu cho phù hợp với điều kiện từng vùng, miền và địa phương.

Điều 89. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng trên đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.

Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì bồi thường theo thiệt hại thực tế.

2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được bồi thường thiệt hại theo quy định của Chính phủ.

3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với cây hàng năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị sản lượng của vụ thu hoạch. Giá trị sản lượng của vụ thu hoạch được tính theo năng suất của vụ cao nhất trong 03 năm trước liền kề của cây trồng chính tại địa phương và giá trung bình tại thời điểm thu hồi đất;

b) Đối với cây lâu năm, mức bồi thường được tính bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở địa phương tại thời điểm thu hồi đất mà không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất;

c) Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;

d) Đối với cây rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cây rừng tự nhiên giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trồng, quản lý, chăm sóc, bảo vệ thì bồi thường theo giá trị thiệt hại thực tế của vườn cây; tiền bồi thường được phân chia cho người quản lý, chăm sóc, bảo vệ theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.

2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với vật nuôi là thủy sản thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất đã đến thời kỳ thu hoạch thì không phải bồi thường;

b) Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm; trường hợp có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra; mức bồi thường cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Điều 91. Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất

1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt; trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồi thường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt.

2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường tại khoản 1 Điều này.

Điều 92. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất

1. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 và điểm b, d khoản 1 Điều 65 của Luật này.

2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng.

Điều 93. Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi.

2. Trường hợp cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.

3. Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước.

4. Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường để hoàn trả ngân sách nhà nước.

5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, nếu bạn không thuộc các trường hợp không được bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất thì bạn sẽ được hưởng các khoản bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật. Việc bạn có hộ khẩu cùng phường hay khác phường không ảnh hưởng gì đến việc bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất. Cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào tình hình thực tế của từng hộ để giải quyết việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách tính thuế xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật

4. Thắc mắc về chính sách đền bù thu hồi đất ?

Xin chào luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi xin được giải đáp: Thưa luật sư gia đình tôi có một thửa đất ruộng nhưng do đất không thể cấy lúa được nên gia đình tôi chuyển qua thả cá, trồng cây ăn quả. Nay UBND xã thu hồi đất cho khu công nghiệp xây dựng.
Vậy xin hỏi luật sư mảnh đất gia đình tôi có được đền bù không? Nếu được đền bù thì sẽ đền bù như thế nào ?

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 82 Luật đất đai 2013 quy định về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất:

"Điều 82. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất

Nhà nước thu hồi đất không bồi thường về đất trong các trường hợp sau đây:

1. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này;

2. Đất được Nhà nước giao để quản lý;

3. Đất thu hồi trong các trường hợp quy định tại Điều 64 và các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 của Luật này;

4. Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này."

Căn cứ tại khoản 3 Điều 82 Luật đất đai, dẫn chiếu tới Điều 64 của luật này:

"1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

2. Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Căn cứ tại Điều 82, điểm a Khoản 1 Điều 64 Luật đất đai, theo đó người sử dụng đất sử dụng đất không đúng với mục đích sử dụng đất đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thì khi Nhà nước thu hồi sẽ không được đền bù. Đối chiếu với trường hợp của bạn, vì bạn không cung cấp đầy đủ thông tin nên chúng tôi chia làm 2 trường hợp như sau:

- Trường hợp thứ nhất gia đình bạn đã thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa sang đất ao vườn:

Khi gia đình bạn đã thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất đúng với quy định của pháp luật đất đai đồng nghĩa với việc gia đình bạn đang sử dụng đất hợp pháp và đúng mục đích sử dụng đất, do đó, gia đình bạn có đủ điều kiện được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Khoản 1 Điều 74 Luật Đất đai 2013 quy định:

“1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường”.

Khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai 2013 quy định:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

Như vậy, về nguyên tắc, để được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 99, 100, 101 Luật Đất đai 2013 mà chưa được cấp. Trong trường hợp này chúng tôi nhận thấy gia đình bạn là người sử dụng đất hợp pháp và sử dụng đất đúng mục đích nên hoàn toàn đáp ứng các điều kiện để được hưởng bồi thường.

Về đền bù:

- Một là, bồi thường về đất: Khoản 2 Điều 74 Luật đất đai quy định về nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất: "Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất."

Như vậy, khi UBND xã thu hồi đất thì phải bồi thường bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng cho người bị thu hồi đất. Nếu không có đất để bồi thường thì UBND phải bồi thường bằng tiền.

Theo quy định tại Điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật Đất đai, việc tính tiền đền bù khi Nhà nước thu hồi đất được tính dựa trên giá đất cụ thể do UBND tỉnh quyết định trên cơ sở điều tra, thu thập thông tin về thửa đất, giá đất thị trường và thông tin về giá đất trong cơ sở dữ liệu đất đai. Như vậy, có thể thấy, mức tiền đền bù ở mỗi địa phương là khác nhau, tùy thuộc vào bảng giá đất cũng như giá đất cụ thể mà UBND tỉnh quyết định và ban hành. Bạn có thể tham khảo bảng giá đất và giá đất cụ thể do UBND tỉnh ban hành tại cơ quan quản lý đất đai ở địa phương.

- Hai là, bồi thường chi phí đầu tư còn lại vào đất khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điều 77 Luật Đất đai 2013 như sau:

"1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại theo quy định sau đây:

a) Diện tích đất nông nghiệp được bồi thường bao gồm diện tích trong hạn mức theo quy định tại Điều 129, Điều 130 của Luật này và diện tích đất do được nhận thừa kế;

b) Đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này thì không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại;

c) Đối với diện tích đất nông nghiệp do nhận chuyển quyền sử dụng đất vượt hạn mức trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

2. Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận hoặc không đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang sử dụng, diện tích được bồi thường không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật này".

Trường hợp này, gia đình bạn được bồi thường về đất và chi phí đầu tư còn lại vào đất.

- Trường hợp thứ hai, gia đình bạn chưa thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ đất ruộng sang đất ao vườn. Theo đó, căn cứ tại khoản 3 Điều 82, điểm a khoản 1 Điều 64 Luật đất đai, gia đình bạn đã vi phạm pháp luật về đất đai, cụ thể là hành vi sử dụng đất sai mục đích. Vì vậy, đối với trường hợp này khi Nhà nước thu hồi đất gia đình bạn sẽ không được bồi thường.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theoqua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Bồi thường khi di dời địa điểm kinh doanh?

5. Phân tích vụ án hành chính khiếu kiện quyết định thu hồi đất trên thực tế ?

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 04/2006/HC-GĐT NGÀY 09-11-2006 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HÀNH CHÍNH “KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH THU HỒI VÀ HUỶ GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT”

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 04/2006/HC-GĐT
NGÀY 09-11-2006 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HÀNH CHÍNH “KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH THU HỒI VÀ HUỶ
GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT”

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

...

Ngày 09 tháng 11 năm 2006, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao đã mở phiên toà giám đốc thẩm xét xử vụ án hành chính giữa các đương sự:

Người khởi kiện:

1. Bà Đỗ Thị Râm, sinh năm 1953;

2. Chị Vi Thị Thuyết, sinh năm 1984;

3. Anh Vi Văn Soái, sinh năm 1986,

Cùng trú tại tiểu khu 1, thị trấn An Châu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

Bà Đỗ Thị Râm, chị Vi Thị Thuyết và anh Vi Văn Soái cùng uỷ quyền cho:

1. Ông Vi Đức Lập, sinh năm 1942; trú tại thôn Thượng, xã An Châu, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;

2. Ông Phạm Chí Công, sinh năm 1979; trú tại số 181 phố Chợ Mát, phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương, tạm trú tại số 148 đường Trần Duy Hưng, phường Trung Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội;

Người bị kiện: Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

NHẬN THẤY:

Ngày 7-11-1983, đại diện Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, Uỷ ban nhân dân xã An Châu, đại diện chính quyền khối phố và Trưởng Bến xe khách Sơn Động lập Văn bản tạm cắt đất làm quán trong khu vực bến xe cho một số hộ gia đình trong đó có hộ ông Vi Xuân Trường - diện tích mỗi quán là 9m2 (3m ´ 3m); các hộ phải chấp hành các quy định: đóng lệ phí cho bến xe, khi địa phương bố trí hay có phương án quy hoạch vào địa điểm mới cũng như bến xe có thay đổi thì các hộ phải di chuyển theo sự hướng dẫn của bến xe và địa phương.

Năm 1998, khi tiến hành lập bản đồ địa chính, đơn vị đo đạc đã đo và đưa diện tích nhà quản lý bến xe vào diện tích quán của ông Vi Xuân Trường.

Ông Nguyễn Đức Thuần là Bí thư Chi bộ đã ký thay ông Vi Xuân Trường tại hồ sơ kỹ thuật thửa đất lập tháng 12-1998 với diện tích đất ở là 134,1m2 thuộc thửa số 4 tờ bản đồ địa chính số 11 khu 1, thị trấn An Châu và Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên ông Vi Xuân Trường và bà Nguyễn Thị Râm ngày 10-4-1999 với diện tích sử dụng 134,1m2.

Tại Biên bản xét duyệt ngày 27-4-1999, Hội đồng đăng ký đất đã xét duyệt 780 hộ gia đình có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có hộ gia đình ông Vi Xuân Trường.

Ngày 28-12-1999, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00086 QSDĐ/QĐ 1732/QĐ-CT cho ông Vi Xuân Trường, diện tích 134,1m2.

Ngày 06-12-2001, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ra Quyết định
số 1992/QĐ-CT duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất từ đất chuyên dùng sang đất khu dân cư tại khu vực ngã tư thị trấn An Châu, huyện Sơn Động với diện tích 1.381m2 (trong đó có diện tích đất gia đình ông Vi Xuân Trường đang sử dụng).

Ngày 14-12-2001, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang có Thông báo số 86/TB-UB về việc thu hồi đất khu bến xe của ông Vi Xuân Trường (trong thông báo ghi là Vi Quốc Trường) với lý do: Khu đất bến xe trong đó có nhà ông Trường đang ở đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Bắc phê duyệt cấp cho Sở giao thông vận tải làm bến xe khách..., giấy tờ về đất của ông không đảm bảo tính pháp lý về quyền sử dụng đất lâu dài theo các văn bản hướng dẫn của Nhà nước về đất đai. Yêu cầu ông tự tháo dỡ quán và các công trình trên đất.

Ngày 22-4-2002, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định số 310/QĐ-CT về việc phê duyệt giá đất bến xe cũ để tiến hành bán đấu giá quy hoạch khu dân cư. Các cơ quan chức năng của huyện Sơn Động đã tổ chức bán đấu giá, trong đó có diện tích đất ông Vi Xuân Trường. Gia đình ông Vi Xuân Trường không tham gia đấu giá.

Để đảm bảo cho gia đình ông Vi Xuân Trường có chỗ ở, ngày 13-6-2003, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động ra Quyết định số 287/QĐ-UB về việc cấp đất ở cho ông Vi Xuân Trường, diện tích 88m2, địa điểm cạnh bến xe ô tô mới. Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động không thu tiền sử dụng đất đối với ông Vi Xuân Trường. Ông Vi Xuân Trường đã nhận đất và xây nhà.

Tại Báo cáo số 01/BC-TCT ngày 08-8-2003 của Tổ công tác Phòng địa chính xác định: lô đất hiện trạng gia đình ông Vi Xuân Trường đang sử dụng có diện tích 48,02m2; diện tích bến xe cũ có tổng diện tích là 1.381m2, trong đó có 134,1m2 đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vi Xuân Trường.

Ngày 08-9-2004, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động có Tờ trình số 201/TT-UB trình Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Bắc Giang ra quyết định thu hồi, huỷ bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 00086/QSDĐ ngày 28-12-1999 của ông Vi Xuân Trường, với nội dung: đơn vị đo đạc đã đưa toàn bộ nhà quản lý bến xe của huyện vào diện tích quán của ông Vi Xuân Trường làm thành thửa số 4, tờ bản đồ số 11, diện tích 134,1m2; về trình tự lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vi Xuân Trường là sai so với quy định của Luật đất đai và Thông tư số 346/TT-TCĐC ngày 16-3-1998 của Tổng cục địa chính, cụ thể: đây là đất chuyên dùng, ông Vi Xuân Trường không kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất do người khác ký, không có uỷ quyền của ông Vi Xuân Trường; Hội đồng cấp đất thị trấn An Châu không xét cấp đất cho ông Trường thửa số 4, tờ bản đồ số 11, khi tổng hợp danh sách đề nghị cấp trên phê duyệt do nhầm lẫn của cán bộ giúp việc nên đã đưa danh sách ông Trường vào số hộ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Căn cứ Tờ trình số 201/TT-UB ngày 08-9-2004 của Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang có Tờ trình
số 1351/TTr-TNMT-ĐKĐĐ ngày 14-9-2004 đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang thu hồi và huỷ bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Vi Xuân Trường.

Ngày 04-10-2004, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ra Quyết định
số 1549/QĐ-CT thu hồi và huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số sêri Q691394 đã cấp cho hộ ông Vi Xuân Trường tại tiểu khu 1, thị trấn An Châu, huyện Sơn Động theo Quyết định số 1732/QĐ-CT ngày 28-12-1999 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang. Ông Vi Xuân Trường đã khiếu nại quyết định trên.

Ngày 24-02-2005, ông Vi Xuân Trường chết, gia đình ông Vi Xuân Trường dựng cột cây, lợp mái bằng tấm lợp trên diện tích 115,8m2 tại đất bến xe cũ. Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động đã thông báo nhiều lần yêu cầu hộ gia đình ông Vi Xuân Trường tự tháo dỡ, nhưng đến nay gia đình vẫn chưa tháo dỡ.

Ngày 27-5-2005, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ra Quyết định
số 934/QĐ-CT không chấp nhận đơn khiếu nại của ông Vi Xuân Trường;
giữ nguyên Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Ngày 15-7-2005, bà Đỗ Thị Râm, chị Vi Thị Thuyết và anh Vi Văn Soái khởi kiện vụ án hành chính đề nghị Toà án huỷ Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 01/HCST ngày 21-9-2005, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của đại diện hợp pháp của ông Vi Xuân Trường về việc đề nghị huỷ bỏ Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang; giữ nguyên Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Ngày 28-9-2005, bà Đỗ Thị Râm, chị Vi Thị Thuyết và anh Vi Văn Soái có đơn kháng cáo đối với bản án hành chính sơ thẩm.

Tại bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày 19-01-2006, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: sửa bản án hành chính sơ thẩm số 01/HCST ngày 21-9-2005 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang; huỷ Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Ngày 09-3-2006, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động có đơn đề nghị Toà án nhân dân tối cao xem xét bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày 19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Ngày 30-3-2006, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang có Công văn
số 552/UBND-TD đề nghị Toà án nhân dân tối cao kháng nghị bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày 19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội.

Tại Kháng nghị số 03/KN-TK ngày 15-7-2006, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT
ngày 19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xử huỷ bản án hành chính phúc thẩm nêu trên, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại Kết luận số 13/KL-AHC ngày 19-9-2006, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao nhất trí với Kháng nghị số 03/KN-TK ngày 15-7-2006 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

Tại phiên toà giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày 19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 01/2005/HCST ngày 21-9-2005 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

XÉT THẤY:

Trong vụ án này, ông Vi Xuân Trường cùng vợ và các con ông Trường đều là thành viên trong hộ gia đình, cho nên đều có quyền tham gia tố tụng với tư cách là người khởi kiện.

Diện tích 134,1m2 đất ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00086 QSDĐ/QĐ cấp cho gia đình ông Vi Xuân Trường có nguồn gốc là đất chuyên dùng của bến xe khách huyện Sơn Động do chính quyền địa phương và ban quản lý bến xe cho hộ gia đình ông Vi Xuân Trường mượn tạm làm quán bán hàng. Khi đăng ký quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Đức Thuần đã tự ký thay ông Vi Xuân Trường không có sự uỷ quyền. Khi đo đạc bản đồ địa chính năm 1998, đã đưa nhầm diện tích nhà quản lý bến xe vào diện tích quán của ông Vi Xuân Trường thành thửa đất số 4 tờ bản đồ số 11 đứng tên ông Vi Xuân Trường. Khi tổng hợp danh sách đề nghị cấp trên phê duyệt do nhầm lẫn của cán bộ giúp việc nên đã đưa danh sách ông Vi Xuân Trường vào số hộ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vi Xuân Trường với diện tích là 134,1m2 đất tại bến xe Sơn Động cũ là không đúng quy định của Luật đất đai và Thông tư số 346/TT-ĐC ngày 16-3-1998 của Tổng cục địa chính.

Căn cứ vào nguồn gốc đất và trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động và Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ban hành Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 thu hồi và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Vi Xuân Trường tại tiểu khu 1, thị trấn An Châu, huyện Sơn Động là có căn cứ, đúng pháp luật; đồng thời khi yêu cầu gia đình ông Vi Xuân Trường giao lại đất, Uỷ ban nhân dân huyện Sơn Động đã cấp cho gia đình ông Vi Xuân Trường diện tích 88m2 tại khu vực bến xe mới là hợp tình, hợp lý; gia đình ông Vi Xuân Trường đã nhận đất và làm nhà ở.

Khi xét xử sơ thẩm, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định bác yêu cầu đề nghị huỷ Quyết định số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang của người khởi kiện là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đúng với quy định của pháp luật. Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội khi xét xử phúc thẩm vụ án đã quyết định huỷ Quyết định
số 1549/QĐ-CT ngày 04-10-2004 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc thu hồi và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Vi Xuân Trường là không có căn cứ và đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên; căn cứ vào khoản 2 Điều 72 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

Huỷ bản án hành chính phúc thẩm số 17/2006/HCPT ngày19-01-2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 01/2005/HCST ngày 21-9-2005 của Toà án nhân dân tỉnh
Bắc Giang.

____________________________________________

- Lý do huỷ bản án phúc thẩm:

Việc Toà án cấp phúc thẩm quyết định huỷ quyết định thu hồi và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang là không có căn cứ.

- Nguyên nhân dẫn đến việc huỷ bản án phúc thẩm:

Thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ.

(MINH KHUE LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?