Trả lời:

1. Các trường hợp phải báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động

Theo quy định của Bộ luật Lao động, khi người sử dụng lao động hoặc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì không phải trong mọi trường hợp, người sử dụng lao động hoặc người lao động đều phải tuân thủ thời hạn báo trước “theo ngày làm việc”. Theo đó, tùy thuộc vào loại hợp đồng lao động và lý do chấm dứt được Bộ luật Lao động quy định mà thời hạn báo trước sẽ được tính theo ngày làm việc hoặc ngày Dương lịch. Cụ thể như sau:

 

1.1. Nếu người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Nếu loại hợp đồng lao động giao kết là hợp đồng lao động xác định thời hạn và lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là từ phía người sử dụng lao động mà thuộc một trong các trường hợp sau đây:

(i) người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

(ii) do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

(iii) người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định;

(iv) người lao động cung cấp không trung thực những thông tin theo Điều 16.2 Bộ luật Lao động khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động, thì thời hạn mà người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động ít nhất là 30 ngày đối với hợp đồng lao động có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng(1).

Nếu loại hợp đồng lao động giao kết là hợp đồng lao động không xác định thời hạn và lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cũng từ phía người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp tương tự như hợp đồng lao động xác định thời hạn nêu trên, thì thời hạn mà người sử dụng lao động phải thông báo trước cho người lao động ít nhất là 45 ngày (Khoản 1, điều 36 điểm a, 36.1 (b), 36.1 (c); 36.1 (đ), Điều 36.2 (b), và 36.2 (c) Bộ luật lao động năm 2019 và điểm c, khoản 1, điều 35 Bộ luật lao động năm 2019).

Nếu lý do chấm dứt hợp đồng lao động là vì người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người lao động nào làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục, thì thời hạn mà người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động ít nhất là 03 ngày làm việc (Điểm b, khoản 1, điều 36 và điểm c, khoản 2, điều 36 Bộ luật lao động năm 2019). Nếu lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:

(i) người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn theo Điều 31 Bộ luật Lao động;

(ii) người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên thì người sử dụng lao động không cẩn báo trước cho người lao động .

 

1.2. Nếu người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Nếu người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng, thì thời hạn mà người lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất là 03 ngày làm việc (Điều 36.1 (d), 36.1 (e) và Điều 36.3 bộ luật lao động năm 2019; Điều 35.1 (c) bộ luật lao động năm 2019; Điều 35.1 (b) bộ luật lao động năm 2019; Điều 35.1 (a) bộ luật lao động năm 2019; Điều 7 Nghị định 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/12/2020).

Nếu người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ 12 tháng đến dưới 36 tháng, thời hạn mà người lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất là 30 ngày®.

Nếu người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, thì thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất là 45 ngày.

 

1.3. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối các trường hợp đặc thù

Nếu người lao động nào làm việc trong một số ngành, nghề công việc đặc thù sau đây:

- Thành viên tổ lái tàu bay; nhân viên kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, nhân viên sửa chữa chuyên ngành hàng không; nhân viên điều độ, khai thác bay;

- Người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp.

- Thuyền viên thuộc thuyền bộ làm việc trên tàu Việt Nam đang hoạt động ở nước ngoài; thuyền viên được doanh nghiệp Việt Nam cho thuê lại làm việc trên tàu biển nước ngoài; và

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Thì thời hạn báo trước được đặt ra cho cả người lao động và người sử dụng lao động như sau:

- Ít nhất 120 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên; và

- Ít nhất bằng một phần tư thời hạn của hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng.

Như vậy, thời hạn báo trước mà người sử dụng lao động hoặc người lao động phải thông báo cho bên còn lại sẽ được tính theo ngày làm việc hoặc ngày lịch tùy vào từng trường hợp cụ thể như đã được phân tích như trên.

 

2. Thời hạn báo trước theo “ngày làm việc” có bao gồm những ngày nghỉ hằng tuần; ngày nghỉ hằng năm; các ngày lễ, Tết; các ngày nghỉ việc riêng; các ngày nghỉ không hưởng lương không ?

Không có quy định nào của Bộ luật Lao động hướng dẫn cụ thể cho cách hiểu của “ngày” và “ngày làm việc” để báo trước khi chẫm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, ở góc độ pháp luật lao động, có thể hiểu rằng, ngày làm việc chính là ngày mà người lao động phải làm việc theo Nội quy lao động đã đăng ký của từng doanh nghiệp. Cho nên, đối với những ngày nghỉ hằng tuần, ngày nghỉ hằng năm, ngày lễ, Tết, ngày nghỉ việc riêng, ngày nghỉ việc không hưởng lương, vì không phải là ngày mà người lao động phải làm việc, cho nên đương nhiên sẽ không được xem là ngày làm việc của người lao động để tính vào thời hạn báo trước theo ngày làm việc. Theo đó, nếu Bộ luật Lao động quy định là “ngày” thì thời hạn báo trước sẽ bao gồm cả ngày nghỉ hằng tuần, ngày nghỉ hằng năm,ngày lễ, Tết, ngày nghỉ việc riêng, ngày nghỉ không hưởng lương. Còn nếu Bộ luật Lao động quy định là “ngày làm việc” thì thời hạn báo trước sẽ không bao gồm các ngày nghỉ hằng tuần, ngày nghỉ hằng năm, ngày lễ, Tết, ngày nghỉ việc riêng, ngày nghỉ không hưởng lương.

Nguồn: https://phuoc-associates.com/