hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài để yêu cầu Tòa án nhân dân tối cao xét lại theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

1. Kháng cáo, kháng nghị quyết định xét đơn yêu cầu

Việc pháp luật quy định quyền kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể hên nhằm đảm bảo các quyết định của tòa án Việt Nam về việc công nhận, không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài và quyết định của trọng tài nước ngoài đúng đắn và hợp pháp.

Thời hạn kháng cáo của đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự là mười lăm ngày kể từ ngày ra quyết định, nếu họ có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu. Nểu họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn này được tính từ ngày nhận được quyết định của tòa án về việc xét đơn yêu cầu. Trượng họp có sự kiện bất khả kháng hoặc gặp trở ngại khách quan làm cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự không thể kháng cáo trong đúng thời hạn quy định của pháp luật thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn kháng cáo.

Thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 07 ngày, của viện kiểm sát nhân dân cấp cao là 10 ngày kể từ ngày viện kiểm sát nhận được quyết định.

2. Việc phúc thẩm quyết định xét đơn yêu cầu

Việc phúc thẩm quyết định xét đơn yêu cầu công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài bị kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo các quy định tại Điều 462 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định này thì việc phúc thẩm quyết định xét đơn yêu cầu công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài được tiến hành như sau:

- Tòa án nhân dân cấp cao xét lại quyết định của tòa án nhân dân cấp cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ. Trường hợp cần phải yêu cầu giải thích theo quy định tại khoản 1 Điều 457 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thời hạn này được kéo dài nhưng không quá 02 tháng.

- Thành phần hội đồng xét quyết định bị kháng có, kháng nghị gồm 03 thẩm phán, ưong đó có một thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa theo sự phân công của chánh án tòa án cấp cao. Phiên họp xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên họp xét đơn theo quy định tại Điều 458 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Sau khi xem xét, hội đồng có quyền giữ nguyên, sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị, đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị, huỷ quyết định của tòa án cẩp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho tòa cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm, huỷ quyết định của tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 457 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị khi:

- Đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị.

- Đương sự kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt và không có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Luật Minh Khuê (biên tập)